Hiện đang có 3 người (0 thành viên). Số lần viếng :  
 Trang Chính
 Tin Tức
 Thành Viên
 Hình Ảnh
 Phim
 Thư Tín
 Thơ
 Bài Viết
 Đào Từ (66-73)
 ACVTT
 Anh Áo Trắng
 Áo Trắng Trưng Vương
 Bích Huyền
 Bùi Tuấn Dương (63-70)
 Cố GS Nguyễn Đức Hiển
 Chris Scanlan
 Chu Phan
 GS Bùi Viện
 GS Khưu Thị Ngọc Sang
 GS Lê Đức Cửu
 GS Nguyễn Thanh Thu
 GS Nguyễn Văn Phú - Nguyên Hiệu Trưởng Tư Thục Hưng 
 GS Phạm Cao Dương
 GS Trần Thị Thanh Tâm
 Hà Chí Dzũng
 Hà Quân
 Hình Ảnh Vui
 Hoàng Bách Việt
 Hoàng D. Mạnh (61-68)
 Hoàng văn Trung
 Huỳnh Minh Tú
 Khôi An
 Lauren Hilgers/ Trần Ngọc Cư
 Lê Khánh Điền
 Lê Văn Thài (58-65)
 Mai Kim Quang
 Nghiêm Xuân Cường
 Nghiêm Xuân Trang
 Nguyễn Đông Thức
 Nguyễn - Đông A
 Nguyễn Kỳ Phong
 Nguyễn Ngọc Long
 Nguyễn Như Sơn (66-73)
 Nguyễn Sao Miên
 Nguyễn Thiên Ân (57-64)
 Nguyễn Trung Anh
 Nguyễn Tuấn Khanh
 Nguyễn Văn Liên
 Nguyễn Xuân Dục
 Như Không
 NTTV
 Phạm Anh Dũng
 Phạm Văn Nam
 Phạm Văn Phú
 Quán Văn VTT - Mục Lục Tổng Quát
 Sưu Tầm
 Trương Ngọc Thanh (67-74)
 Trần Đình Anh
 Trần Đông Bắc
 Trần Văn Hiển
 Trần Thu Dung
 Trang Thanh Trúc
 Việt Hải - Los Angeles
 Viên Linh
 Nhạc
 Giới Thiệu VTT
 Hỏi Đáp
 Thể Thao - Giải Trí
 Báo Chí
 Trang Liên Kết
 Quán Hẹn (Cần Log In)
 Nhắn Tin-Message
 Log out
 Y - Khoa Học - Kỹ Thuật
 Ðại Hội - Reunions
Disclaimer
1) Ý kiến đóng góp của quí bạn không phải là quan điểm của www.votruongtoan.org và cũng không nhất thiết phải phù hợp với quan điểm của www.votruongtoan.org. Chúng tôi tôn trọng ý kiến khác biệt của quí bạn, nhưng không chịu trách nhiệm dưới bất cứ hình thức nào và nội dung của những ý kiến này. Votruongtoan.org không bảo đảm mọi ý kiến đóng góp đều được đăng và cũng giành quyền biên tập lại khi cần thiết. Cám ơn
 Nguyễn Xuân Dục - Những người bạn Võ Trường Toản (VTT) và một thời
Số lần xem: 2918

Những người bạn Võ Trường Toản (VTT) và một thời để nhớ.

Ngày Ðại Hội kỷ niệm 33 năm ra khơi của Khóa 20 SQHQ tại San Jose, California vào năm 2003, tôi đã vắng mặt. “Một điều lạ” mà một số bạn thường hay chất vấn tôi mỗi khi có dịp gặp mặt. Vì các bạn trong khóa đều biết tôi là thằng rất có hiếu với bè bạn, thật vậy, từ thủa còn mài đủng quần trên ghế nhà trường cho đến ngày nay tôi đã có thói quen là coi mọi bắng hữu như anh em, tứ hải giai huynh đệ mà. Một lần nâng ly cạn hay cạn một ly đâỳ là một lần có duyên với người mới gặp trong một khoảnh khắc, như là một định mệnh không thay đổi mà đôi khi nhiều người thường hay cho là chuyện tào lao. Điều này đôi khi tôi cũng đã nghĩ như vậy! Nhưng cha mẹ sinh con, trời sinh tính mà. Chuyện làm sao tránh khỏi.

Tôi còn nhớ cách đây hơn bốn chục năm.Tôi là một hoc sinh trường trung học Võ Trường Toản, nơi đây đã hun đúc và đào tạo cho chúng tôi trong một tinh thần thương mến bè bạn. Vì trung học Võ Trường Toản có lẽ là một trường trung hoc cỡ nhỏ, nằm ngay giữa thủ đô Saigon rộng lớn, hòn ngọc của Viễn Đông. Nơi mà các bạn đồng môn đều tâm đắc cho là một nơi “địa linh nhân kiệt”…Vì địa điểm của trường nằm ngay ở một vị trí rất đặc biệt : trước mặt là sở thú, với bao nhiêu cầm thú cũng như là một thắng cảnh của Hòn Ngọc Viễn Đông, nơi mà hàng năm đã tiếp đón biết bao nhiêu người đến thăm viếng … có sơn, có thủy, có mộc, và nhất là môi trường sinh thái đầy quyến rũ để bọn học sinh chúng tôi thường lén “coup cour” đi “dạo cảnh”…và thả hồn trong mộng tưởng là mình đang lạc vào cảnh thiên thai với những tà áo “Trưng Vương” nhí nhảnh...và trăm họ thái bình.

Khi em là nắng Xuân thì,
Là mùa trung học, ước gì sóng đôi.
(Minh Khúc 3 - Thơ Nguyễn Tất Nhiên.)


Phía bên trái của trường là nơi mà một thời được coi như nơi đầu não của bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, phủ Thủ tướng. Phía bên tay phải là Bộ Giáo Dục/Nha Thanh Tra Hoc Đường, một nơi ấn định ra lề lối giáo dục, và phía sau lưng của trường là nơi đã sản xuất ra hàng ngàn nữ tu đức độ cho một tôn giáo lớn vào hạng nhất nhì trên thế giới, đó là một dòng nữ tu Thiên Chúa giáo...Những điều này có nghĩa là ngôi trường nằm ở vào một địa điểm có đầy đủ điểm tốt theo như trong kinh Dịch là có sỹ, có văn, có đức, có quyền lực (lộc). Nhưng trên thực tế, thì ngôi trường này đã đào tạo ra nhiều Sĩ (quan) hơn văn. Do đó trong thời chiến, đã có đủ loại thứ mũ màu lính chiến hiện diện thăm lại trường cũ thường xuyên trong những giờ tan học tại quán Hẹn, nơi đối diện với cổng trường của các cựu học sinh.

Khi em cùng nắng tan trường;
Áo đơm hương gió, lòng đơm hương chiều;
(Minh Khúc 3 - Thơ Nguyễn Tất Nhiên.)


Hẳn là các bạn vẫn còn nhớ đến thời gian từ năm 1965 trở về sau là thời gian mà cuộc chiến Việt Nam đã trở nên thật là sôi động…Mọi tin tức từ bạn học cũ của những năm cùng mài đủng quần trên ghế nhà trường đều đã được loan truyền, và nhắc nhở đến trong những giờ ra chơi hay chờ vào lớp...nhất là những người bạn đã hiên ngang nằm xuống cho sự tự do của một VNCH thời đó...như một Nguyễn Văn Tùng, anh bạn mảnh khảnh học cùng thời có một cái tên ngộ nghĩnh do bạn bè đặt cho là Tùng sún, hay anh hùng cọp bay, do các thuộc cấp của anh đã đặt cho. Anh vừa đậu xong mảnh bằng tú tài 1 là tình nguyện vào trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức ngay với tuổi đời mới chỉ 17, còn thiếu mất mấy tháng để có đủ tuổi nhập ngũ. Vậy mà một khi ra trường sau 2 hay 3 năm, anh đã được gắn lon đại úy. Anh về thăm trường với 3 bông mai vàng sáng chói mang trên cổ áo trận, và với một hàm răng sún, mất 1 cái ngay trước của miệng, làm tăng thêm nét đặc biệt của Tùng, một sĩ quan thiết đội trưởng trẻ nhất trong đoàn quân thiết kỵ của QLVNCH lúc bấy giờ. Nhưng buồn thay, chỉ một vài tháng sau thì chúng tôi cũng đã được biết anh đã thành cố thiếu tá với tuổi đời mới tròn 23. Và còn nhiều các bạn đồng môn khác cũng đã chết một cách hào hùng trên chiến trận nữa.

Tuy nhiên trong đám bạn đồng môn, cũng có nhiều người đã cùng tôi đổ mồ hôi tại quân trường Quang Trung rồi Nha Trang, như các bạn Ngô Nguyên Trực, Lương Quang Mỹ, Võ Văn Hai, Lữ Anh Tuấn, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Phùng Xuân, Lưu An Huê, Đỗ Ngọc Viêm...Mỗi người bạn này lại có những kỷ niệm với tôi, khác biệt nhau.

Với Ngô Nguyên Trực, người đã có nhiều kỷ niệm với tôi nhất. Đó là ngày anh bạn này từ Đà Lạt về Saigòn ghé thăm tôi, cũng là ngày mà chúng tôi đang chờ đợi để được bổ nhiệm sở sau khi đã tốt nghiệp hàng không. Trực đã nhờ tôi chở đi nộp đơn vào Hải Quân, và tại đây tôi đã nổi máu anh hùng, cũng điền và nộp đơn xin gia nhập dù không ở vào tình thế phải bị bắt buộc như bạn Trực. Thế là từ đó chúng tôi thường sát cánh bên nhau, đi đâu cũng có mặt, ngay cả những chuyện tình vớ vẩn cũng đã được chia sẻ.

Rồi tại đây tôi đã gặp lại Phan Ngọc Long, người bạn cùng học trong Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ. Long học về Công Chánh, và thường hay đánh banh volley mỗi buổi chiều trước khi bọn tôi về nhà. Thế là tay bắt mặt mừng, và kết nhóm đi chơi chung trong khi chờ đợi ngày ra quân trường Nha Trang. Và cũng vì cái duyên mà Long đã gặp mặt Liên, người vợ đầu đời của anh. Âu, cái duyên cái nợ nó cũng là số Trời đã định cả! Tôi vẫn còn nhớ như mới ngày hôm qua, chuyện tình Long-Liên vừa xẩy ra. Một ngày rủ các bạn trong nhóm chúng tôi về nhà tôi chơi, rồi khi trở vào trại, tình cờ đi ngang nhà dậy lái xe trên đường Trần Hưng Đạo, nơi tôi đã học lái xe trước đây. Bà cụ chủ nhà nhận ra tôi, và mời vào nhà chơi. Thế là cả nhóm lại dừng chân, vào uống chén trà. Ra về thấy Long có vẻ bẽn lẽn, và suy tư. Hỏi ra thì bạn tôi đã phải lòng cô bé con bà cụ dậy lái xe mà chúng tôi vừa ghé thăm.

Trên rừng có cây bông kiểng;
Dưới biển có cá hóa long;
Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong,
Anh đi Lục tỉnh giáp vòng,
Tới đây Trời kiến cho lòng thương em.
(Ca Dao Việt Nam)


Thế là ông đi qua bà đi lại, và mối tình đôi trẻ đã càng ngày càng phát triển hầu như không thể cách ngăn. Nhờ vậy mà chúng tôi cũng được chiếu cố trong những buổi gặp mặt cùng gia đình cô bé, hay những buổi thăm nuôi tại quân trường Quang Trung, và ngay cả khi ra Nha Trang.

Ai về đằng ấy hôm mai,
Gửi dăm cái nhớ, gửi về cái thương,
Gửi cho đến chiếu đến giường,
Gửi cho đến tận quê hương chàng nằm.
(Ca Dao Việt Nam)


Đó cũng chính là nguyên nhân tôi đã được trở thành tù trưởng của K20, khi tôi đã bỏ cả lịnh trực để tham gia cùng nhóm, và gia đình cô bé khi vừa được đi bờ lần đầu tiên sau thời gian huấn nhục. Cũng vì cái duyên này, mà sau này gia đình Long và tôi thường gặp nhau. Vào ngày cuối của cuộc chiến, tôi đã tình cờ mang cả gia đình bên vợ của Long ra bến tàu, và tại đây Long đã gặp lại vợ con để cùng nhau lên HQ-2 ra đi. Chúng tôi lại gặp nhau tại trại tạm trú Indian Town Gap, Pennsylvanila, và với những thăng trầm của cuộc đời nổi trôi đưa đẩy trên xứ tạm cư, Hoa Kỳ. Cô bé ngày nào của Long nay đã ra đi về nơi cõi khác tại Washington, DC khi các con vừa được thành danh.

Bạn Võ Văn Hai, thì lại có những kỷ niệm khác với tôi. Khi vào nhập trại Bạch Đằng II tôi cũng hay lân la làm quen với các bạn mới vào, và tình cờ tôi được Hai cho biết là đã học ở VTT. Thế là chúng tôi có dịp nói chuyện về trường cũ, về thầy cô cũ, và về bạn bè đồng môn cũ. Và có một điều mà tôi nhớ mãi là, Hai thường than thân trách phận về cái thân hình hơi đẫy đà của mình. Hai thường tâm sự là "tao và mày đều mập, nhưng tao mập sang, phải không mầy". Tôi chỉ mỉm cười, mà không biết phải trả lời bạn mình làm sao? Sau này mỗi khi gặp mặt, là tôi thường nhắc lại điều đó, và đã làm cho ông bạn tôi thêm phần bẽn lẽn. Giờ anh đang sống một mình với hai con, vì anh đã lầm như trong một bài ca do nhạc sĩ Lam Phương sáng tác, Các bạn coi có ai xin giới thiệu dùm.

Tôi rời LĐNN về hạm đội, xuống trình diện tân đáo HQ-331, gặp ngay lại bạn Lương Quang Mỹ, rồi Trần Đại Trung (K-18) cùng đồng môn trường VTT. Thế là chúng tôi lại có chung cùng tần số để hàn huyên mỗi lần tàu nghỉ bến ngoài căn cứ mẹ Saigòn, hay tại các địa danh như Tân Châu, Vĩnh Long, Bến Tre, Năm Căn, Vũng Tàu. Những chuyến thăm viếng đầy tiếng cười sau những lần công tác đầy hiểm nguy...Như một lần hộ tống tàu buôn từ lãnh hãi Việt Nam đến Nam Vang, tôi đã được một anh hạm phó tàu buôn ngỏ ý sẽ để lại cho chúng tôi 50 thùng thuốc la "555", tôi hí hửng về bàn với Trung, Mỹ, Tề, và Hạm phó Dinh là làm sao có tiền để mà mua bán đây? Cả bọn quyết định để Hạm Phó “lo” cho chuyện này. Mọi việc xong xuôi, tưởng là mọi người sẽ có tí tiền ăn chơi khi nghỉ bến Saigòn, nhưng chờ mãi mà chẳng thấy tiền đâu sau một chầu cơm tại nhà người mua ra về! Rồi lần khác khi chiếc tàu Yellow Dragon bị CS tấn công bên đất Miên, thủy thủ đoàn phải đào thoát, không người lái, và trôi lềnh bềnh về tại Vĩnh Xương. Chúng tôi được Hạm Trưởng cho biết là có ý định sẽ cứu chiếc này về Tân Châu, và hy vọng sẽ được thưởng mỗi người với một số tiền hậu hĩnh...Nhưng công tác này bị hủy bỏ vì một lần, tình cờ tôi sang chiếc PCE HQ-06 cũng đang hoạt động trong vùng để cụng ly với bạn Đinh Phú Thịnh. Tôi đã được vị Hạm Trưởng tàu này “thả lời” thăm dò là chắc HQ-331 đã gặp được “mối lớn” khi chiếc tàu buôn “bị nạn”. Tôi vội trình việc này với Hạm Trưởng của chúng tôi, và đề nghị HT nên coi lại việc này ra sao. Hạm Trưởng tôi nghe thấy vậy, đã bỏ ngay ý định kè cứu chiếc tàu bị nạn trước khi an ninh hạm đội đến thanh tra vụ này. Thật là hú vía, nếu không là cầm chắc chúng tôi sẽ gặp nạn lớn. Sau này mới được biết CHT giang đoàn 72 Thủy Bộ có bị liên can và anh bạn Hà Duy Hùng.

Một lần công tác tại Vũng Tàu, chúng tôi thấy một chiếc tiểu đỉnh có hình dáng khác thường và có cái neo nằm to tổ bố trước mũi. mà trước đây trong quân trường có nói đến, loại neo “nấm” để giử cho chiến hạm đứng yên vị trí trên biển. Chúng tôi gồm HT Ngụy Văn Thà, Nguyễn Văn Tề (K19), Lương Quang Mỹ, và tôi đang đứng ngắm cái neo ngộ nghĩnh này vì chiếc tiểu đĩnh này đang cặp vào bên cạnh, vị trí số 2. Anh thuyền trưởng chiếc tiểu đỉnh này sang, và tiến lại chào Lương Quang Mỹ nhà ta: “Commandant cho phép tôi cập bên cạnh”…anh ta chưa kịp dứt lời, thì Mỹ đã phải hốt hoảng lắc đầu lia lịa…”không...không phải tôi”, và chỉ HT Thà, thứ thiệt đứng bên cạnh “ông này là HT đây!” Tôi cười và tự phát ra "biết đâu, mai mày sẽ nhận được công điện xuống tàu này?" Quả như lời tôi nói, Mỹ đã được thuyên chuyển xuống chiến hạm này với danh xưng hạm phó. Anh bạn này đã rủa tôi "miệng mày ăn mắm ăn muối, nói tầm bậy". Thế là bạn Mỹ của tôi đã phải “trấn thủ” trên chiến hạm này (Đài Kiểm báo 303) hơn 2 năm để rồi phải tìm cách rời tàu bằng cách xin đi học an ninh và vì vậy Anh đã có dịp, điều tra về vị hạm phó cũ của chúng tôi trong thời gian làm SQAN vùng 3 SN. Ngày VNCH bị bức tử, Mỹ đã ở lại, và bị đi học tập tù cải tạo. Mãi sau này, gia đình anh mới được định cư tại vùng trời Canada.

Một bạn khác, cũng cùng là đồng môn VTT với chúng tôi là bạn Lữ Anh Tuấn. Tôi gặp lại Tuấn, trong một chuyến công tác tại Vũng Tàu. Tại đây, tôi cũng đã gặp các bạn Nguyễn Ngọc Châu (Fit), Phạm Văn Cần, Lê Văn Thạnh, Hồ Văn Xách, Bùi Đình Hoan, Đào Cơ Chí, và Lữ Anh Tuấn. Bẵng đi một thời gian sau cuộc chiến của tháng 4 năm 1975, tôi được tin Tuấn và gia đình đã vượt biên và đang ở tại trại tị nạn Paulo Bidong. Tôi đã liên lạc và cho Nguyễn Hùng Tâm biết tin này, vì em của Tuấn là bạn cũ học chung với Tâm. Tôi cứ nghĩ là sẽ được gặp lại Tuấn tại Hoa Kỳ, nhưng mãi sau này mới được biết bạn và gia đình đã sang định cư tại Úc Châu, và tại đây đã có một con đường mang tên Tuấn, chàng trai nước Việt đã cứu được một mạng người. Gặp lại Tuấn, trong dịp Đại Hội năm 2000. Tôi đã ngỡ ngàng vì ông bạn Tuấn nay không còn đầy đặn như ngày nào, chỉ vì bị mắc một căn bệnh của tuổi già.

Nguyễn Văn Lộc, anh bạn cùng lớp đệ nhất B2 tại VTT ngày nào, nhưng tôi đã không nhận được ra anh khi nhập ngũ, chỉ vì anh ngồi tận cùng trong góc lớp, và tôi thì ngồi trên đầu lớp, và chúng tôi ít khi trò chuyện. Mãi đến khi có dip sang San José, Lộc mới cho tôi biết, và từ đó chúng tôi thường liên lạc với nhau hơn trong tình bạn cùng trường, cùng lớp, và cùng khóa.

Nguyễn Phùng Xuân, anh bạn “già” trong Khóa. Anh là anh của một người bạn cùng lớp, đã du hoc tại Nhật, và vì vậy anh đã giúp tôi rất nhiều khi tôi tân đáo đơn vị tại Sàigòn. Anh cũng là một trong những người bạn cùng khóa, hiền hòa và ít nói nhất. Nay được tin anh đang định cư tại Bỉ, cũng mong có ngày sẽ được gặp lại.

Không nhắc đến Lưu An Huê thì cả là một sự thiếu sót rất lớn. Bạn Huê mê ca nhạc, nhất là nhạc kích động ngoại quốc còn hơn cả ăn uống và đi “cua” đào. Cũng vì thế mà bạn Huê đã không thể đi học tiếp, mà gia nhập Khóa 20 SQHQ. Huê tốt với bạn, duyên dáng với phái nữ, và có hiếu với gia đình. Anh là người đã mang sinh động đến cho những buổi “văn nghệ văn gừng” với những bài nhạc kích động. Trước ngày ra Nha Trang, Lưu An Huê rủ tôi đến nhà vị hôn thê của anh, Thanh Nhàn, ở cuối đường Phan Thanh Giản bên miệt DaKao. Huê và Nhàn sắp làm đám cưới. Anh của Nhàn là một giáo sư dậy toán ở VTT, và dậy luyện thi tú tài cho chúng tôi ở trung tâm Pasteur, một trung tâm luyện thi vô vụ lợi do sinh viên đại học Sài Gòn tổ chức. Trong ngày cưới, tôi đã làm phụ rể cho Huê, còn em gái của Nhàn, một nữ sinh xinh đẹp trường nữ trung học Trưng Vương làm cô dâu phụ.

Này lắng nghe em khúc nhạc thơm,
Say người như rượu tối tân hôn,
Như hương thấm tận qua xương tủy,
Âm điệu, thần tiên, thấm tận hồn.
(Huyền Diệu – Xuân Diệu)


Đỗ Ngọc Viêm học sau tôi, và không ở cùng trung đội hay chơi chung với tôi nên không có nhiều kỷ niệm. Hy vọng sẽ gặp lại bạn trong kỳ Đại Hội Khóa 20 sắp tới ở nơi tiểu bang bạn đang ngự cư.

Giờ đây, những ngày tháng của tuổi trong ngoài sáu bó, chúng tôi lại sẽ có cơ hội gặp gỡ nhau trong ngày kỷ niệm họp khóa vào tháng 7 sắp tới tại Orlando, Florida, quả là một điều kỳ diệu. Những nỗi vui buồn sẽ lại được góp tụ lại với những mái đầu bây giờ đã không còn xanh đen, màu da đã không còn đượm màu nắng cháy quân trường hay chiến địa, và thay thế bằng những nét mặt đăm chiêu nhăn nhúm với thời gian. Những vui buồn đời người, thăng trầm trong cuộc sống, tình duyên hay nợ nần đều đã được an bài riêng tư của mỗi một người trong chúng tôi, chắc chắn sẽ lại được khơi lại như đống tro tàn được khơi bùng lên lần cuối.

Nặng mang mãi khối hình hài ô nhục,
Tâm hồn ta đã nhọc tự lâu rồi,
Bao nhiêu xanh thăm thẳm trên bầu trời,
Bao bóng tối trong lòng ta vẩn đục.
Vũ Đình Liên


Tuy vậy trong thâm tâm tôi vẫn mang hy vọng là sẽ còn có thêm nhiều lần nữa, sẽ được gặp lại nhau để ôn lại những kỷ niệm một thời để nhớ trước khi về lại với Mẹ Việt Nam và Mẹ Trùng dương như ngày chúng ta cùng thề nguyện.

Nguyễn Xuân Dục


Nguyễn Xuân Dục
Những người bạn Võ Trường Toản (VTT) và một thời
Nguyễn Xuân Dục
2008-12-16
Giai Phẩm Xuân Võ Trường Toản 1965 & 1969-75
Đọc lại những Giai Phẩm Xuân Võ Trường Toản 1965 & 1969-75 do các anh Nguyễn Tuấn Khanh (64-71) và Lê Minh Chánh (68-75) thu thập:


Đọc bài khảo cứu dưới đây của anh Nguyễn Tuấn Khanh (64-71) về chữ Quốc Ngữ trong giai đoạn phôi thai:
Đọc Đăng Cổ Tùng Báo
Hình Kỷ Yếu VTT 1971
Tập Kỷ Yếu Trung học Võ Trường Toản, kỷ niệm 15 năm hoạt động 1956-1971. Gồm 42 trang, ấn hành 3000 bản, in xong ngày 20-5-1971 tại nhà in riêng Kim Studio.
>> Xem Kỷ Yếu
Thông tin
Các bạn đã từng viết thơ văn, làm nhạc hay vẽ tranh v.v... xin đóng góp trên trang votruongtoan.org.
Cám ơn các bạn.
Nguyệt San VTT (71-75)
Đọc lại Nguyệt San Võ Trường Toản phát hành đầu tiên từ tháng 11, năm 1971 cho đến tháng 4 năm 1975 do Nguyễn Ngọc Long (68-75) sưu tầm.> Đọc Nguyệt San

Website: http://www.votruongtoan.org
Email: admin@votruongtoan.org