Hiện đang có 4 người (0 thành viên). Số lần viếng : 426990 
 Trang Chính
 Tin Tức
 Thành Viên
 H́nh Ảnh
 Phim
 Thư Tín
 Thơ
 Bài Viết
 Đào Từ (66-73)
 ACVTT
 Anh Áo Trắng
 Áo Trắng Trưng Vương
 Bích Huyền
 Bùi Tuấn Dương (63-70)
 Cố GS Nguyễn Đức Hiển
 Chris Scanlan
 Chu Phan
 GS Bùi Viện
 GS Khưu Thị Ngọc Sang
 GS Lê Đức Cửu
 GS Nguyễn Thanh Thu
 GS Nguyễn Văn Phú - Nguyên Hiệu Trưởng Tư Thục Hưng 
 GS Phạm Cao Dương
 GS Trần Thị Thanh Tâm
 Hà Chí Dzũng
 Hà Quân
 H́nh Ảnh Vui
 Hoàng Bách Việt
 Hoàng D. Mạnh (61-68)
 Hoàng văn Trung
 Huỳnh Minh Tú
 Khôi An
 Lauren Hilgers/ Trần Ngọc Cư
 Lê Khánh Điền
 Lê Văn Thài (58-65)
 Mai Kim Quang
 Nghiêm Xuân Cường
 Nghiêm Xuân Trang
 Nguyễn Đông Thức
 Nguyễn - Đông A
 Nguyễn Kỳ Phong
 Nguyễn Ngọc Long
 Nguyễn Như Sơn (66-73)
 Nguyễn Sao Miên
 Nguyễn Thiên Ân (57-64)
 Nguyễn Trung Anh
 Nguyễn Tuấn Khanh
 Nguyễn Văn Liên
 Nguyễn Xuân Dục
 Như Không
 NTTV
 Phạm Anh Dũng
 Phạm Văn Nam
 Phạm Văn Phú
 Quán Văn VTT - Mục Lục Tổng Quát
 Sưu Tầm
 Trương Ngọc Thanh (67-74)
 Trần Đ́nh Anh
 Trần Đông Bắc
 Trần Văn Hiển
 Trần Thu Dung
 Trang Thanh Trúc
 Việt Hải - Los Angeles
 Viên Linh
 Nhạc
 Giới Thiệu VTT
 Diễn đàn
 Hỏi Đáp
 Thể Thao - Giải Trí
 Báo Chí
 Trang Liên Kết
 Quán Hẹn (Cần Log In)
 Nhắn Tin-Message
 Log out
 Khoa Học - Kỹ Thuật
 Đại Hội - Reunions
Disclaimer
1) Ư kiến đóng góp của quí bạn không phải là quan điểm của www.votruongtoan.org và cũng không nhất thiết phải phù hợp với quan điểm của www.votruongtoan.org. Chúng tôi tôn trọng ư kiến khác biệt của quí bạn, nhưng không chịu trách nhiệm dưới bất cứ h́nh thức nào và nội dung của những ư kiến này. Votruongtoan.org không bảo đảm mọi ư kiến đóng góp đều được đăng và cũng giành quyền biên tập lại khi cần thiết. Cám ơn
 GS Phạm Cao Dương - Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy
Số lần xem: 429

Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy
(Bài viết của GS Trần Thế Đức, Úc Châu về những kỷ-niệm thời c̣n học tại trường ĐH sư phạm với các thầy P.C. Dương, P.Đ.Tiếu,...)

Thường th́ những người có danh, có chức mới viết hồi kư khi về già. Tôi chỉ là một nhà giáo b́nh thường, chẳng có ǵ to lớn cả, nên chẳng bao giờ nghĩ đến việc tự viết về ḿnh. Tuy nhiên, qua bao năm sống c̣n, nghĩ lại ḿnh cũng c̣n những điều đáng nhớ nên mạo muội ghi lại.

Trong cuộc đời chúng ta, biết bao mốc thời gian, biết bao biến cố xảy ra, nhất là những ai đă sống trong những ngày tàn khốc nhất trên đất nước Việt Nam trong những năm khói lửa (1945-1975). Không nhắc tới những biến cố trên đất nước, trong cuộc đời ḿnh, một mốc thời gian quan trọng là lúc quyết định chọn nghề sau khi rời mái trường trung học.

Thời niên thiếu của tôi (cuối thập niên 1950 và đầu 1960), không có cố vấn học đường, cố vấn nghề nghiệp, và những tài liệu hướng dẫn về các ngành học ở đại học cũng như các trường chuyên nghiệp như ngày nay ở các nước tiên tiến. Tài liệu duy nhất mà chúng tôi biết là cuốn sách nhỏ “Đây Đại Học” do sinh viên công giáo soạn và tái bản nhiều lần. Ở trường, các thày trẻ, mới ra trường, cũng là những người hướng dẫn chúng tôi rất nhiệt tâm. Khi tôi học lớp đệ nhị ở trường trung học Chu Văn An Sài G̣n (1961-1962), thày Phạm Xuân Lương, một thày giáo trẻ, mới tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm, coi chúng tôi như những đứa em, và hướng dẫn chúng tôi rất nhiều.

Đối với những kẻ con nhà nghèo như tôi, lời khuyên của thày là nên học Đại Học Sư Phạm, v́ thời gian học chỉ có ba năm, lại có học bổng (1500 đồng một tháng) có tí tiền tiêu xài, không cần xin cha mẹ. Vào thời đó, đây là một số tiền lớn, v́ lương công chức (thư kư phù động) khoảng trên 2000 đồng, lương chuẩn uư 2200 đồng ăn tô phở chỉ tốn 5 đồng, ly cà phê 2 đồng. Từ đó tôi thấy con đường đi trước mắt: Đại Học Sư Phạm. Nhưng học môn ǵ? Tôi học ban A, khoa học thực nghiệm, nên định học môn vạn vật, theo gót các thày Nguyễn Văn Đỉnh (vị thày chuyên dạy ban A, với phương pháp thật dễ hiểu) và Nguyễn Ngọc Quỳnh (người có hai bàn tay lả lướt thành những h́nh tuyệt đẹp như những bức tranh của họa sĩ, mà khi thày xóa bảng, chúng tôi cứ tiếc).

Đôi khi thày Quỳnh biểu diễn bằng cả hai bàn tay với đủ lọai phấn màu. Ngoài ra, chúng tôi có thể hỏi các anh chị của bạn bè, những người đi trước. Một người bạn tôi có ông anh học rất giỏi, năm nào cũng lănh phần thưởng là những chồng sách cao, khi c̣n học Chu Văn An. Sau khi đậu tú tài, anh thi đậu vào trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc. Tôi rất mê ngành nông nghiệp mà anh đang học. Anh phải đi thực tập hàng tháng trời, khi th́ ở các đồn điền cao su Long Khánh, B́nh Dương, khi th́ ở các đồn điền trà Bảo Lộc – Lâm Đồng. Đọc cuốn luận văn sau khi thực tập của anh (Ngành trồng trà ở Bảo Lộc – Lâm Đồng), tôi rất thích. Nhưng tôi không thể mơ tới trường này được, v́ trong kỳ thi tuyển có bài toán ban B, c̣n bài vạn vật tŕnh độ ban A. Tôi học ban A th́ làm sao làm nổi bài toán ban B.

Trường trung học Chu Văn An của tôi gần như là trường ban B. Thế mà tôi lại chọn ban A. Lớp ban A của tôi tập trung những kẻ cùng thân phận như tôi (dốt hoặc sợ môn toán), nhưng lại là nơi khởi đầu của nhiều bạn học giỏi đă chọn con đường thật dài và sáng giá: y khoa đại học, để trở thành bác sĩ. Những người bạn thân của tôi từ thời đệ thất đều khuyên và rủ tôi cùng vào APM (Année Préparatoire de Medecine = dự bị y khoa) với họ. Nhưng hoàn cảnh của gia đ́nh tôi quá eo hẹp, 7 năm học thật quá dài. Tôi đành chọn con đường ngắn hơn chút ít: nha khoa, chỉ học 5 năm. Chó ngáp phải ruồi, tôi đậu (họ tuyển 30 ngưởi trong số 800 thí sinh dự thi). Thế là tôi học dự bị nha khoa (APD = Année Prépatoire Dentaire) ở Đại Học Khoa Học, kế bên Đại Học Sư Phạm.

Hơn 10 mạng ban A chúng tôi thi vào ban vạn vật Đại Học Sư Phạm, nhưng chỉ có một đứa duy nhất đậu. Học ban A th́ phải “tụng” vạn vật cho kỹ. Tôi thuộc cả đến những chỗ xuống hàng và mọi h́nh vẽ trong cuốn sách dày cộm, thế mà vẫn ăn vỏ chuối. Ban vạn vật thực là khó: khoảng 1000 thí sinh, trường Đại Học Sư Phạm chỉ lấy có 15 người. Người bạn cùng lớp với tôi đậu được là do đâu? Có lẽ do tài khéo tay của anh ta (vẽ thật đẹp như họa sĩ), và cũng do bài Anh văn nữa. Kỳ thi có một bài vạn vật và bài Anh văn (dịch Anh - Việt).

Tôi học dự bị nha khoa, giờ rảnh th́ cùng bạn bè lang thang khắp nơi: hầm MPC, Đại Học Sư Phạm,... chờ giờ học sắp tới. Bỗng tôi thấy bên Đại Học Sư Phạm tấp nập với những tà áo thướt tha. Đại Học Sư Phạm đang nhận đơn thi tuyển cho niên khoá sắp tới. Tôi gặp lại bạn bè Chu Văn An cũ, đang học ở những Đại Học không mấy chắc ăn (Khoa Học, Văn Khoa, Luật Khoa) cũng nộp đơn thi vào sư phạm cho yên.

Người ta nộp đơn th́ tôi cũng lấy bằng tú tài ra và điền đơn, đâu có mất mát ǵ. Nhưng thi vào môn nào? Ban Vạn Vật th́ tôi đă tiêu tùng từ năm trước, không dám đụng đến nữa. Anh Văn và Việt Văn th́ làm sao địch nổi bọn ban C. Thôi th́ nộp vào ban Sử Địa vậy, vô thưởng, vô phạt, ai cũng như ai. Đến ngày thi, tôi cũng đi thi. Thế mà chó ngáp phải ruồi, tôi đậu, thứ hạng cũng khá cao trong 40 thí sinh trúng tuyển, trong khoảng 1000 người dự thi. Bao nhiêu bạn bè của tôi đều không thấy tên. Năm trước, khi thi vào ban Vạn Vật, tôi c̣n mở sách ra ḍ lại bài. Chứ bây giờ, tôi đi chơi chứ có định học đâu mà ôn bài.

Sau này, sau khi học Sử Địa ở Đại Học Sư Phạm , tôi ngẫm nghĩ tại sao ḿnh lại đậu? Tôi nhớ mang máng đề thi lúc đó là: “ T́nh h́nh thế giới giữa hai thế chiến”. Tôi đoán: khi làm bài thi, tôi đă làm đúng phương pháp sử mà sau này tôi được học: phân tích, tổng hợp, giải thích sự kiện. Đó là những ư niệm tôi rút ra khi học sử ở trung học, khác với lối học thuộc ḷng ngày, tháng, năm, tên vua này, vua nọ...chán ngấy. Hồi đó, tôi không hài ḷng về cách dạy Sử, Địa của vài thày khi c̣n học ở những lớp dưới. Tôi nghĩ: bài như thế th́ phải dạy học sinh thế này, thế kia, chứ bắt học sinh học thuộc ḷng th́ c̣n ǵ hay nữa. Tôi đă nghĩ ra phương pháp phản hồi đối với bài dạy, mà sau này, khi học sư phạm tôi mới được biết.

Sử, Địa ở trung học, bị coi là môn phụ, môn ăn chơi. Nhưng tôi lại thấy học Sử như đọc truyện nên tôi nắm được những sự kiện chính, những mốc thời gian. Môn Sử khiến cho con người tôi lúc th́ nóng bừng lên, lúc th́ giận tím gan (phản hồi). Môn Sử tạo cho con người tinh thần yêu nước, yêu non sông, đất Việt. C̣n Địa Lư, tôi có cảm tưởng như ḿnh được đi du lịch khắp năm châu bốn biển, biết được nhiều nơi, nhiều dân tộc trên thế giới và rút ra những bài học cho đất nước ḿnh. Có lẽ Sử, Địa đă thấm vào trong tim óc tôi từ lâu, nên tôi đă làm bài thi đúng phương pháp và may mắn thi đậu.

Trước ngày khai giảng ban Sử Địa, tôi coi thời khóa biểu niêm yết trước văn pḥng hành chánh, thấy giờ học cũng nhàn nhạ nên thử vào xem sao. Tôi cứ tưởng sẽ được gặp các vị nổi tiếng trong lănh vực Sử Địa như ông bà Tăng Xuân An, giáo sư Phan Khoang, sử gia Phạm Văn Sơn,.... Nhưng trên thời khóa biểu chỉ thấy tên các vị giáo sư mà trước kia tôi chưa hề nghe tiếng: Phạm Cao Dương, Phạm Đ́nh Tiếu, Lâm Thanh Liêm, Nguyễn Thế Anh, .... cả mấy ông Tây nữa (Teulières, Flamand). Vị giáo sư đầu tiên mà tôi được gặp là giáo sư Phạm Cao Dương. Những giây phút đầu tiên chúng tôi học với thày không phải là bài sử, mà là những lời hướng dẫn cho chúng tôi con đường chúng tôi nên theo, nên làm. Theo thày, trong lănh vực Sử, Địa và văn hóa của người Việt Nam, c̣n rất nhiều điều mà người Việt Nam chúng ta chưa nghiên cứu, chẳng hạn lịch sử mỹ thuật Việt Nam chưa có những công tŕnh nghiên cứu sâu xa. C̣n sử Việt Nam, từ trước tới nay, người viết sử chỉ nh́n dưới khía cạnh lịch sử chính trị, mà không nh́n dưới khía cạnh lịch sử văn minh. Quả thực thật mới mẻ đối với tôi. Thày đă hé mở cho chúng tôi biết sử là ǵ. Thày c̣n nhắc: ḿnh không làm th́ ai làm? Tôi nhớ lại, khi c̣n học ở trung học, các thày tôi nhắc tới những công tŕnh nghiên cứu văn hóa Việt Nam do người Pháp thực hiện. Có những ông tây da trắng, mũi lơ ngồi hút thuốc lào cùng với các bác nông dân trên bờ ruộng để t́m hiểu văn hóa Việt Nam. Người Pháp làm đựơc th́ tại sao ḿnh không làm được? Vả lại họ nghiên cứu cách nay mấy chục năm rồi, nước ta, dân ta đă có nhiều thay đổi. Những lời đầu tiên của giáo sư Phạm Cao Dương khiến tôi suy nghĩ và cảm thấy hứng khởi. Giáo sư Phạm Cao Dương đă xoáy vào tim bọn sinh viên mới bước chân vào đại học. Tôi thấy cũng hay. Ḿnh sống, làm được chút ǵ cũng vui. Dạy trung học chỉ có 16 giờ mỗi tuần, nghĩa là chỉ có bốn buổi, c̣n quá nhiều thời giờ rảnh rỗi, ḿnh có thể làm việc khác, t́m hiểu về văn hóa, sử, địa của địa phương ḿnh, và rộng ra của nước Việt Nam chúng ta. Tôi t́m thấy nguồn vui. Những lời nói đầu tiên của Giáo sư Phạm Cao Dương khi tôi bước chân vào Đại Học Sư Phạm của đă tạo nên bước ngoặt có tính cách quyết định trong cuộc đời tôi.

Hôm sau, giáo sư Lâm Thanh Liêm cũng khuyến khích chúng tôi nên ghi danh học Sử Địa ở Đại Học Văn Khoa và đi vào con đường nghiên cứu địa lư. Những lời tâm huyết của thày là nguồn khích lệ lớn lao cho 40 lính mới chúng tôi: nửa lớp ghi danh học năm dự bị ở Đại HọcVăn Khoa. Một số bạn không ghi danh ở Đại Học Văn Khoa v́ c̣n học tiếp bên Luật Khoa mà họ đă theo đuổi từ trước, hoặc bận bịu dạy thêm ở trường tư, kiếm cơm nuôi gia đ́nh.

Ngoài giáo sư Phạm Cao Dương, chúng tôi học với giáo sư Phạm Đ́nh Tiếu. Thày Phạm Đ́nh Tiếu lôi cuốn chúng tôi với tính t́nh cởi mởi, gần gũi với học tṛ. Phong cách thân mật vớí học tṛ, làm việc hăng say hết ḿnh của thày đă thấm vào con người chúng tôi. Sau này, khi ra trường, những nhà giáo chuyên về Sử Địa của lớp chúng tôi thường lăn xả vào những sinh hoạt trong trường mà những người chuyên dạy tư thường tránh né: tổ chức những sinh hoạt xă hội, trại du khảo, trại công tác, đảm nhận chức vụ hiệu đoàn phó (hiệu trưởng là hiệu đoàn trưởng). Có những bạn phải nhận chức vụ hiệu trưởng, giám học ngay từ năm đầu tiên nhận nhiệm sở. Những sinh hoạt trong trường khiến đời sống trong trường học không chỉ là phấn trắng, bảng đen, sách vở. Chính những sinh hoạt này tạo nên sự khắng khít giữa thày, tṛ, trường, lớp mà không sách vở nào tạo nên được. Ngoài Sử Địa và Việt Văn, có thày cô dạy môn nào đào tạo học sinh trở thành những người có tâm hồn Việt Nam? Từ thế hệ chúng tôi, học sinh không c̣n nh́n ông thày Sử Địa qua môn học hệ số 2, môn phụ. Sử Địa không c̣n là môn mà bất cứ ai cũng dạy được.

Trước kia, Sử Địa do những giáo chức không chuyên môn đảm nhận v́ Đại Học Sư Phạm chưa cung cấp đủ thày cô giáo. C̣n chúng tôi do Đại Học Sư Phạm đào tạo vững vàng về kiến thức chuyên môn, tự tin về khả năng sư phạm, lấy lại uy tín cho bộ môn Sử Địa. Có những bạn cùng khóa chúng tôi đă “hớp hồn” học sinh: “Sau này em sẽ học Đại Học Sư Phạm, môn Sử Địa, giống thày”. Không biết các bạn tôi đúng hay sai? Khi “thôi miên” học sinh vào môn học mà nhiều người vẫn coi thường, khiến học sinh không chọn những con đường khác, nghề khác là điều thiệt tḥi cho các em. Tương tự như thế, thày giáo trẻ mới ra trường khiến cô nữ sinh nào đó bị say ḷng, dù anh ta không tỏ bày hay làm điều ǵ trái với chức năng của nhà giáo, cũng là điều đáng tiếc, v́ nếu không gặp ông thày thần tượng của em, biết đâu em chẳng gặp được chàng trai nào đó có chức, có danh hơn ông thày tỉnh lẻ. Tuy nhiên, ông thày dạy Sử Địa tạo được ảnh hưởng đối với tương lai của học sinh đă chứng tỏ sự thành công của nhà giáo.

Khi học với giáo sư Lâm Thanh Liêm về những môn địa h́nh thái học (Géomorphologie) và bản đồ (Cartographie) tôi thấy hay. Khi học ở lớp đệ tam (1960-1961), tôi thật uể oải với môn địa chất học mà tôi phải chịu đựng nhiều giờ trong tuần, ban A mà. Nhưng nay, đất đá là những dạng cụ thể ở các địa h́nh, trên đất nước Việt Nam và trên thế giới, là thực tế bên ngoài nhà trường, tôi lại thấy gần gũi. Môn học này nhẹ nhàng đối với tôi. Giáo sư Lâm Thanh Liêm mới từ Pháp về, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ đệ tam cấp ở đại học Sorbonne, Paris, một trường đại học nổi danh.

Một môn mới lạ đối với những người mới bước chân vào lănh vực chuyên môn về Sử là môn B́nh giảng sử liệu do giáo sư Nguyễn Thế Anh giảng dạy. Tôi thích thú với môn này, v́ những dữ kiện của quá khứ nói lên rất nhiều điều sống động, ḿnh khám phá ra biết bao điều đă ch́m vào thời gian đă qua: xă hội, kinh tế, chính trị, giải thích những biến cố từ sâu trong quá khứ.... Giáo sư Nguyễn Thế Anh cũng mới từ Pháp về, với bằng thạc sĩ. Theo hệ thống giáo dục Pháp, người có văn bằng thạc sĩ là giáo sư đại học thực thụ, chứ không phải thạc sĩ là tên gọi văn bằng sau cử nhân như trong nước quy định như hiện nay.

Những ngày đầu bước chân vào Đại Học Sư Phạm khiến tôi thơ thới, hân hoan. Tôi cùng các bạn cùng lớp sang ghi danh ở Đại Học Văn Khoa, nằm ở đường Nguyễn Trung Trực (sau này là Giám Sát Viện và thư viện quốc gia). Đây là trung tâm thành phố Sài G̣n, sát bên đường Lê Thánh Tôn, đi bộ vài trăm mét là tới đại lộ Lê Lợi, nhà sách Khai Trí, kem Mai Hương, nước mía Viễn Đông, ... Sau giờ học, chúng tôi có thể đi bát phố hoặc ngồi quán cà phê ngắm các bóng hồng thướt tha trên đường Lê Lợi, hoặc ghé vào rạp xi nê khi có phim hay. Tôi ghi danh với mục đích vui chơi nhiều hơn là học.

Trường Đại Học Văn Khoa không có những đại giảng đường khang trang như những đại học khác. Pḥng học ở đây nằm trong những căn nhà bệ rạc không thua ǵ khu “chuồng ngựa” trường Chu Văn An của tôi. Sinh viên dự bị nhiệm ư Sử Địa phải học chung nhiều môn với các sinh viên chọn nhiệm ư khác, nên lớp học nào cũng đông nghẹt. Các cô thường đi sớm dành chỗ cho nhau ở các hàng ghế đầu giống như đi xem kịch vậy. Mặt mũi ḿnh không thể tranh giành với các bóng hồng, lại lười đi sớm, nên tôi thường ngồi phía sau lưng các bóng hồng, hoặc đứng ngoài cửa sổ mà ngóng vào trong nghe giảng. Trường xập xệ như vậy, nhưng thày tṛ không màng những thứ vật chất tầm thường trên thế gian và hướng tới những cái hay, cái đẹp.

Tại Đại Học Văn Khoa, tôi thấy những môn học thật nhẹ nhàng, bay bướm. Cũng may, thời khoá biểu ở Đại Học Văn Khoa và Đại Học Sư Phạm không trùng nhau nhiều nên tôi có thể đi học được và không sợ bị mất bài. Nếu có trùng với Đại Học Sư Phạm th́ tôi mượn vở “lấy cua” của bạn bè.

Tôi không chủ đích học văn chương, nhưng những giáo sư văn chương khiến tôi thấy đi học cũng thích thú. Nghe giáo sư Nguyễn Văn Trung nói chuyện về văn chương, về nhà văn (Nhà văn, người là ai?) cũng hấp dẫn.

C̣n mỗi buổi học với linh mục Thanh Lăng là một bài nói chuyện lư thú về văn chương, không uổng công đứng mỏi chân ở ngoài cửa sổ ghi chép.

Văn chương ở đại học, dù chỉ ở cấp thấp nhất (năm dự bị) cũng khác với văn chương tôi học ở trung học.

Tôi cũng phải học môn chữ Hán. Tưởng rằng thứ chữ này thật khó nuốt, nhưng giáo sư Lưu Khôn đă thay đổi cách suy nghĩ của tôi. Với cách dạy của thày, tôi thấy học loại chữ này không khó, nhưng ḿnh phải bỏ thời gian với nó. Qua những bài học đầu tiên, tôi nhận ra tính thâm thúy của người Tàu qua lối viết của họ. Sau này tôi sẽ bỏ thời giờ nhiều hơn để học thứ chữ này để có khả năng đọc được những bản văn cổ viết bằng chữ Hán.

Thế là ở Đại Học Văn Khoa, tôi cũng thấy học mà vui.

Sau khi ngao du ở cả hai trường Đại Học Sư Phạm và Đại Học Văn Khoa, tôi quyết định “xin chọn nơi này làm quê hương”. Lư do là học ở những nơi này rất nhẹ nhàng, không mệt nhọc như học Anatomie, Physique, Chimie, ... Đến trường lại thấy mướt mắt, cuộc đời cũng có niềm vui. T́m hiểu sâu xa về văn hóa dân tộc, nghiên cứu về đất nước, lịch sử dân tộc ḿnh cũng là nguồn vui. Sau này, khi học ở Đại Học Văn Khoa, được dịp dự những buổi tŕnh tiểu luận cao học (thời đó chưa có tiến sĩ) hoặc t́m hiểu những đề tài nghiên cứu ở bậc cao học, tôi nhận ra đó là những khám phá về đời sống của dân tộc ḿnh.

Một lư do nữa khiến tôi chọn nghề dạy học là nhà giáo vẫn cón chút giá trị tinh thần trong xă hội. Vào thời tôi, nhà giáo vẫn được quư trọng. Bạn bè tôi có anh chị dạy học ở tỉnh cho biết thày cô giáo phải ăn uống trong tiệm đàng hoàng, chứ không được ngồi ở các quán bên lề đường hay trong chợ. Nếu không phải là thày cô giáo th́ ăn uống ở đâu cũng chẳng ai để ư. Thày giáo mà giao du với cô nào th́ ngày hôm sau cả trường đều biết và xầm x́. Các anh sĩ quan cặp bồ với cô này, cô nọ lại là chuyện thường. Tôi không muốn mọi người kính nể, cũng rất sợ được coi là tấm gương cho mọi người, chỉ muốn nói rằng nhà giáo vẫn c̣n được xă hội quư mến. 10 năm sau, xă hội thay đổi, danh dự của nhà giáo tuy có sứt mẻ, nhưng xă hội vẫn nể v́ những bậc thay mặt cha mẹ dạy dỗ con cái của họ.

C̣n về vật chất th́ ngành giáo được chính phủ ưu đăi hơn các công chức hạng A khác: chỉ số lương của giáo sư trung học đệ nhị cấp mới vào nghề là 470, trong khi tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh hoặc Cao Đẳng Nông Lâm Súc chỉ số lương là 430. Sinh viên Đại Học Sư Phạm được học bổng 1000 đồng mỗi tháng, trong khi sinh viên trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc phải xin học bổng, nếu được chấp thuận th́ được 700 đồng mỗi tháng. Với tiền học bổng hàng tháng, tôi không cần phải xin cha mẹ hoặc đi dạy kèm nữa. Bạn tôi ở tỉnh về Sài G̣n học, với số tiền học bổng này, anh ta đủ trang trải tiền trọ và tiền ăn hàng tháng. Lương giáo sư trung học đệ nhị cấp mới ra trường thời đó khoảng 9000 đồng mỗi tháng. Nếu dạy thêm một số giờ (v́ thiếu người dạy), lương sẽ trên 10 000 đồng / tháng. Đây là mức lương rất cao (gấp 5 lần lương của thư kư). Với số lương này, tôi nghĩ cuộc sống sẽ đầy đủ. Tôi không mong làm giàu, chỉ mong cuộc sống yên ổn, an nhàn.

Nếu tôi học xong nha khoa, làm sao tôi có được vài trăm ngàn đồng để mua máy làm răng? Dược sĩ không có tiền mở nhà thuốc tây th́ cho mướn bằng. C̣n nha sĩ th́ không thể cho mướn bằng được. Thời đó, người ḿnh chưa có thói quen đi khám răng và điều trị ở nha sĩ. Khi đau răng hoặc làm răng giả th́ người ta đến thợ trồng răng.

Tôi đă quyết định bỏ Nha Khoa và theo học Đại Học Sư Phạm song song với Đại Học Văn Khoa.Thế là dạy học là nghề và nghiệp của tôi. Tôi vui với học tṛ, vui với việc nghiên cứu Sử Địa. Thế hệ chúng tôi chưa làm được việc ǵ to lớn cho đất nước, nhưng rất vui v́ đă đem hết khả năng của ḿnh đào tạo mầm non cho đất nước. Đất nước Việt Nam c̣n đau thương, c̣n chiến tranh, nhưng chúng tôi rất tự tin v́ đă được đào tạo thành những nhà giáo đầy đủ khả năng chuyên môn, đầy nhiệt huyết để đào tạo thế hệ mai sau thành những người có ḷng và có khả năng xây dựng đất nước. Dù các môn Sử, Địa đ̣i hỏi tinh thần khách quan và khoa học, nhưng qua những dữ kiện đó, ḷng yêu nước vẫn nảy mầm trong học sinh và các em không hổ thẹn là người Việt Nam. Song song với nghề nghiệp, một số chúng chúng tôi t́m ṭi, học hỏi, nghiên cứu sâu rộng hơn trong những lănh vực sử và địa.

Khi chúng tôi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm th́ một bạn đă tŕnh tiểu luận cao học Địa Lư và bốn người hoàn tất văn bằng cử nhân giáo khoa Sử Địa. Tới ngày 30-4-1975 th́:

Hai người hoàn tất văn bằng cử nhân giáo khoa Sử Địa. Hai anh này không học tiếp lên cao học v́ một anh say mê với các môn kinh tế ở Đại Học Luật Khoa. C̣n anh kia th́ bận bịu với việc dạy học ở tỉnh nhà.
Một người hoàn tất cao học Sử, do giáo sư Nguyễn Thế Anh bảo trợ.
Hai người đậu cao học Địa Lư, do giáo sư Lâm Thanh Liêm bảo trợ. Hai người này qua được năm thứ nhất chuyên khoa Địa Lư, chuẩn bị luận án tiến sĩ chuyên khoa Địa Lư.


Ngày 30 tháng tư năm 1975 là một biến cố đau thương của toàn dân Việt Nam. Khi nón cối, dép râu, nón tai bèo dẫm nát Sài G̣n, vào chiếm trường học, th́ cuộc đời đă chấm dứt. Thân phận chúng tôi là thân phận những kẻ chiến bại, những kẻ được kẻ chiển thắng cho tạm dung. Chúng tôi bám lấy trường chỉ để bám lấy sự sống cho gia đ́nh, để khỏi bị tống ra ngoài thành phố mà người ta gọi là đi kinh tế mới. Bọn con trai chúng tôi trong khóa 7 Đại Học Sư Phạm may mắn không phải đi tù cải tạo, v́ chúng tôi chỉ học quân sự 9 tuần, mang cấp bậc khóa sinh dự bị sĩ quan. Các bạn từ khóa 6 trở về trước và khóa 8 trở về sau đều phải nếm mùi tù cải tạo v́ mang cấp bậc sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Ḥa, biệt phái.

Trong xă hội cộng sản, ḿnh chỉ được nói những ǵ mà đảng cho nói, nói mà chẳng ai tin, ngay cả chính ḿnh. Những nhà giáo tạm dung như chúng tôi muốn yên thân th́ chấp nhận thân phận những con vẹt để sống cho qua ngày. Người bạn cùng lớp với tôi dạy ở trường trung học Pétrus Kư (nay là Lê Hồng Phong) vạ mồm vạ miệng nói trước lớp: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”. Thế là đám học tṛ đoàn, đảng báo cáo với ban giám hiệu và ngay ngày hôm sau, anh bị đuổi khỏi trường. Khi mới tiếp xúc với cộng sản, anh ta chưa nhận ra được cách sống cho thích hợp.

Bản chất nhà giáo là sống chân thật nên khó xoay sở trong lúc t́nh thế nhiễu nhương. Một số rất ít người lanh lợi tháo vát th́ kiếm sống thêm trên đường phố: buôn bán thuốc tây chui, quần áo cũ... Chúng tôi được đào tạo về cả Sử lẫn Địa, nhưng họ chỉ định dạy một môn Sử, hoặc Địa. Sử của cộng sản là sử đảng, sử bác. Khi Việt Cộng mới chiếm Sài G̣n, tôi muốn biết xem lối viết Sử của họ ra sao, nên t́m cuốn Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam tập I để đọc. Ngay trang đầu là h́nh Hồ Chí Minh to tổ bố. Vậy là ǵ? Hồ Chí Minh được đặt trước các bậc tổ tiên của dân Việt , trước cả các vị anh hùng dân tộc như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ,... Sau đó là lời nhắn nhủ của thủ tướng Phạm Văn Đồng: “ ... Các đồng chí phải chứng minh cho được thời kỳ chiếm hữu nô lệ....” . Như thế:

Thủ tướng Phạm Văn Đồng là nhà hành chánh, nhà chính trị, mà các người gọi là nhà viết sử của chế độ phải tuân lệnh th́ loại văn mà họ viết ra chỉ để vừa ḷng xếp, chứ không phải là kết quả của cuộc nghiên cứu khách quan.
Họ đặt cái cày đi trước con trâu, t́m con ḅ cho vừa cái chuồng. Chưa nghiên cứu mà phải t́m cho được thời kỳ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam.


Cái gọi là “Sử” của cộng sản chỉ là một loại văn viết theo đơn đặt hàng của đảng. Sau này mới biết những nhân vật lịch sử mà học sinh bị nhồi sọ như Phan Đ́nh Giót, Lê Văn Tám chỉ là những sản phẩm bịp bợm.

Những cuốn sách tái bản sau này của bộ Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam đă bỏ câu nói của Phạm Văn Đồng, nhưng ảnh của Hồ Chí Minh th́ vẫn vậy.

Dẫn chứng như trên, tôi muốn nói: đối với cộng sản, không có môn Sử, mà chỉ có những lời tuyên truyền theo họ muốn.

C̣n về Địa Lư? Làm sao mà dẫn chứng chủ nghĩa tư bản đang rẫy chết trong khi nền kinh tế và tŕnh độ khoa học kỹ thuật vượt bậc của họ không thể bịp được đứa con nít? Lảm sao mà chứng minh: “Đồng hồ Liên Sô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ”? và phản khoa học như: “Trăng Trung Quốc tṛn hơn trăng nước Mỹ”?

Cái khổ của người trí thức không phải v́ chầu chực để được nhận những hột bo bo, con cá ươn, mớ rau thối... mà là nỗi nhục cho thân phận của ḿnh, và nỗi đau cho đất nước và dân tộc.

Người ta gọi ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày đứt phim, ngày đổi đời, ngày mất nước, ngày quốc hận. Điều nào cũng đúng. Thân phận của ḿnh mà c̣n không biết có yên thân không th́ c̣n nghĩ ǵ tới nghiên cứu. Nghiên cứu làm sao được khi tài liệu không có. Tin tức, số liệu được công bố th́ toàn là những bịa đặt. Tất cả mọi thứ trong chế độ “ưu việt nhất của loài người” phải được đảng lănh đạo. Đảng có cần, có sai bảo th́ mới được làm. Bọn nhà giáo gốc nguỵ, lư lịch ba đời đầy rẫy những vết đen th́ đảng cho yên thân là tốt lắm rồi, nói ǵ đến nghiêu cứu. Tinh thần đâu mà nghiên cứu khi gia đ́nh c̣n nheo nhóc, dạ dày c̣n lép xẹp.

C̣n về mặt hành chánh, trường Đại Học Tổng Hợp (thay cho Đại Học Văn Khoa trước kia) chỉ công nhận văn bằng cử nhân, chứ không công nhận văn bằng cao học. Cuộc đời của nhiều người coi như đă chấm dứt từ cái ngày đen tối đó.

Vài lời ghi lại của một kẻ đă hết ḷng với cả hai trường Đại Học Sư Phạm và Văn Khoa Sài G̣n, nhân dịp Hội Ngộ 40 Năm Viễn Xứ, mà đường xa vạn dặm không thể tới dự được./

Trần Thế Đức
(Úc, 28-8-2015)
Xin mạn phép trích đăng lại từ trang web http://www.nhatbaovanhoa.com


GS Phạm Cao Dương
Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy
GS Phạm Cao Dương
2016-03-03
Lịch sử nào cho tuổi trẻ học đường VN?
GS Phạm Cao Dương
2016-03-03
Liên Tục Lịch Sử, Một Đặc Tính Cơ Bản
GS Phạm Cao Dương
2016-03-03
Biên Giới VN và TQ qua Các Triều Đại Quân Chủ Việt Nam (updated)
GS Phạm Cao Dương
2016-03-04
Đặc Tính Lăng Mạn Trong Những Năm Đầu Của Cuộc Kh
GS Phạm Cao Dương
2016-10-26
Gợi Ư Về Hai Công Tác Cần Phải Làm
GS Phạm Cao Dương
2010-04-06
Từ Bảo Đại đến Hồ Chí Minh: 2 bản Tuyên Ngôn Độc Lâp
GS Phạm Cao Dương
2010-09-19
Dựng Tượng Đức Thánh Trần ở Little Saigon
Admin
2014-09-03
Từ California Hướng Về Montreal - Nhớ Nguyễn Khắc Ngữ
GS Phạm Cao Dương
2015-04-16
Giai Phẩm Xuân Vơ Trường Toản 1965 & 1969-75
Đọc lại những Giai Phẩm Xuân Vơ Trường Toản 1965 & 1969-75 do các anh Nguyễn Tuấn Khanh (64-71) và Lê Minh Chánh (68-75) thu thập:


Đọc bài khảo cứu dưới đây của anh Nguyễn Tuấn Khanh (64-71) về chữ Quốc Ngữ trong giai đoạn phôi thai:
Đọc Đăng Cổ Tùng Báo
H́nh Kỷ Yếu VTT 1971
Tập Kỷ Yếu Trung học Vơ Trường Toản, kỷ niệm 15 năm hoạt động 1956-1971. Gồm 42 trang, ấn hành 3000 bản, in xong ngày 20-5-1971 tại nhà in riêng Kim Studio.
>> Xem Kỷ Yếu
Thông tin
Các bạn đă từng viết thơ văn, làm nhạc hay vẽ tranh v.v... xin đóng góp trên trang votruongtoan.org.
Cám ơn các bạn.
Nguyệt San VTT (71-75)
Đọc lại Nguyệt San Vơ Trường Toản phát hành đầu tiên từ tháng 11, năm 1971 cho đến tháng 4 năm 1975 do Nguyễn Ngọc Long (68-75) sưu tầm.> Đọc Nguyệt San

Website: http://www.votruongtoan.org
Email: admin@votruongtoan.org
426990