Hiện đang có 1 người (0 thành viên). Số lần viếng : 144191 
 Trang Chính
 Tin Tức
 Thành Viên
 H́nh Ảnh
 Phim
 Thư Tín
 Thơ
 Bài Viết
 Đào Từ (66-73)
 ACVTT
 Anh Áo Trắng
 Áo Trắng Trưng Vương
 Bích Huyền
 Bùi Tuấn Dương (63-70)
 Cố GS Nguyễn Đức Hiển
 Chris Scanlan
 Chu Phan
 GS Bùi Viện
 GS Khưu Thị Ngọc Sang
 GS Lê Đức Cửu
 GS Nguyễn Thanh Thu
 GS Nguyễn Văn Phú - Nguyên Hiệu Trưởng Tư Thục Hưng 
 GS Phạm Cao Dương
 GS Trần Thị Thanh Tâm
 Hà Chí Dzũng
 Hà Quân
 H́nh Ảnh Vui
 Hoàng Bách Việt
 Hoàng D. Mạnh (61-68)
 Hoàng văn Trung
 Huỳnh Minh Tú
 Khôi An
 Lauren Hilgers/ Trần Ngọc Cư
 Lê Khánh Điền
 Lê Văn Thài (58-65)
 Mai Kim Quang
 Nghiêm Xuân Cường
 Nghiêm Xuân Trang
 Nguyễn Đông Thức
 Nguyễn - Đông A
 Nguyễn Kỳ Phong
 Nguyễn Ngọc Long
 Nguyễn Như Sơn (66-73)
 Nguyễn Sao Miên
 Nguyễn Thiên Ân (57-64)
 Nguyễn Trung Anh
 Nguyễn Tuấn Khanh
 Nguyễn Văn Liên
 Nguyễn Xuân Dục
 Như Không
 NTTV
 Phạm Anh Dũng
 Phạm Văn Nam
 Phạm Văn Phú
 Quán Văn VTT - Mục Lục Tổng Quát
 Sưu Tầm
 Trương Ngọc Thanh (67-74)
 Trần Đ́nh Anh
 Trần Đông Bắc
 Trần Văn Hiển
 Trần Thu Dung
 Trang Thanh Trúc
 Việt Hải - Los Angeles
 Viên Linh
 Nhạc
 Giới Thiệu VTT
 Hỏi Đáp
 Thể Thao - Giải Trí
 Báo Chí
 Trang Liên Kết
 Quán Hẹn (Cần Log In)
 Nhắn Tin-Message
 Log out
 Y - Khoa Học - Kỹ Thuật
 Đại Hội - Reunions
Disclaimer
1) Ư kiến đóng góp của quí bạn không phải là quan điểm của www.votruongtoan.org và cũng không nhất thiết phải phù hợp với quan điểm của www.votruongtoan.org. Chúng tôi tôn trọng ư kiến khác biệt của quí bạn, nhưng không chịu trách nhiệm dưới bất cứ h́nh thức nào và nội dung của những ư kiến này. Votruongtoan.org không bảo đảm mọi ư kiến đóng góp đều được đăng và cũng giành quyền biên tập lại khi cần thiết. Cám ơn
 Trương Ngọc Thanh (67-74) - Ngựa Già Vẫn Háu Đá
Số lần xem: 848

Ngựa Già Vẫn Háu Đá
(Posted 3/2017)

Tôi có cái tính ham chơi, lười học từ nhỏ, có lẽ từ lúc mới sinh ra, như mẹ tôi vẫn thường nói.
Đă lâu lắm rồi, hứa với Lệ Chi sẽ viết bài cho Đặc San Xuân Khoa Học 2015 mà cho đến hôm nay mới làm được. Chẳng c̣n bao lâu nữa, lại thêm một cái Tết buồn tênh nơi xứ người.



(Lớp 12A1, trường VTT năm 1974 - H́nh Trương N. Thanh, 67-74)


Tôi sẽ viết thật nhiều về kỷ niệm của một thời mới lớn, về một thời của những chia ĺa như vận nước buồn đau, về Khoa Học của tôi có con đường Cộng Ḥa ngập đầy hoa vàng cườm thảo, như anh chàng Họa Sĩ tài hoa Nguyễn Đức Cường của chúng tôi đă thi sĩ hóa cho loài hoa mộng mơ đă đưa đón những cặp t́nh nhân Khoa Học trong những ngày Sài G̣n rực nắng.

Độ hơn năm nữa tôi cũng bước vào lứa tuổi 60 như những ông bạn của tôi. Giờ không c̣n là “chú ngựa non háu đá” như ngày nào của những năm 1972 -1975, mà do cái đời sồng này, tôi vần c̣n hăng lắm, đá đông, đá tây nơi xứ lạ quê người.

Tôi hay viết về miền quê, nơi tôi sinh ra. Cái kư ức tuổi thơ luôn gợi nhớ về Ḥa Hảo, Châu Đốc, một làng nhỏ hiền ḥa bên ḍng Cửu Long, có những mùa nước lũ, ngầu đục phù sa. Ở đó có những người dân thật chân thật. Với đầy t́nh người, họ đă đón nhận bố mẹ tôi, những người vào năm 1954, đă phải ra đi lánh nạn từ một miền Bắc xa xôi…

Tôi đă sống với Sài G̣n vào những năm 60, lúc mà tiếng súng Cách Mạng 01.11.1963 lật đổ chế độ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm vẫn c̣n văng vẳng bên tai của môt chú bé chưa tṛn 7 tuổi. Ngày đó Sài G̣n với hơi cay, với biểu t́nh, với đảo chánh, vẫn c̣n trong trí nhớ non nớt của tôi.

Năm 1967 rời Sàig̣n lên An Lộc do cuộc đời quân ngũ của bố tôi. Đến vùng đất đỏ thật xa lạ này, đối với tôi như một chốn thần tiên. Ngày đặt chân đến đây, tôi đă ngây người nh́n loài hoa tím dại bên đường, hoa mắc cở, khép lá. Những cánh rừng cao su bạt ngàn đă khơi lên cái tính hiếu kỳ mạo hiểm trong tôi. Về miền đất đỏ ấy, có một phần đời này, tôi đă viết về B́nh Long, về An Lộc, trong kỷ niệm mà nước mắt nhạt nḥa: “…Tôi đă lớn lên với An Lộc, với Xa Cam, Xa Cát, Quản Lợi, với những vườn cây trái xanh tươi bên những ḍng suối mát ẩn ḿnh trong những cánh rừng cao su ngút ngàn của vùng đất đỏ cao nguyên. Nơi đó, tôi đă có những ngày thơ dưới mái trường Trung Học B́nh Long, biết cùng thằng Thiện, thằng Khương, thằng Hùng … trốn học đi tắm cống, tắm đập, đến nỗi bị bạn giấu mất cả quần, không có ǵ để mặc về nhà. Rồi có những ngày sau giờ học rủ nhau đánh khang, đánh trổng, đánh lộn với thằng Vũ Thành Nam như cơm bữa, v́ có những thằng bạn khích vào. Cũng may thằng Nam nó nhỏ con như tôi. Sau gặp lại nhau, chúng tôi vẫn nhắc đến chuyện này hoài. Rồi cũng biết chọc phá những cô sơn nữ trong những sóc làng tận chốn xa xăm, bên bờ suối vắng. Nơi đó tôi đă có Liên, cô bạn học bé nhỏ, má đỏ môi hồng, dễ thương đă tập cho tôi ăn những trái me chua trong khu vườn rực nắng, chúm chím môi cười. Mà có lẽ, lúc đó nếu tinh ư, Liên đă bắt gặp ánh mắt đắm nh́n của tôi. Tuổi mười lăm ngày đó, chẳng hiểu tôi đă biết yêu chưa? Tôi cũng đă có những chiều bâng khuâng nhớ Liên, nhớ mái tóc mây mềm từ dạo mới vào học Đệ Thất, học thêm, chung với Liên. Nhớ những ngày bên nhau trên Đồi Gió, nh́n từ Xa Cam vào B́nh Long để mơ mộng vẩn vơ.”

Ngày trốn chạy khỏi B́nh Long, tháng Tư của Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, đi qua nhà Liên ở Cư Xá Sĩ Quan mịt mù trống vắng. Trong hỗn loạn tôi thấy cay cay trong mắt, chẳng biết v́ khói súng hay do những giọt nước mắt không thành cho một lần tiễn biệt…

Nói đến An Lộc tôi nhớ về Tướng Lê Văn Hưng, với cái nghĩa khí của một vị tướng tài.

Những năm tháng Sài G̣n, trong ngôi trường Vơ Trường Toản bé nhỏ hiền ḥa bên cạnh cô hàng xóm Trưng Vương kiêu sa, chúng tôi bị ngăn cách bởi ngôi nhà cổ kính của Nha Khảo Thí, tôi cũng biết sáng đợi chiều trông. Biết cùng Thiện đứng bên này trên dăy lầu ba để vẫy gọi với những cô láng giềng chưa hề biết gặp. Biết hẹn ḥ và làm thơ để run trao cho L.H. Những vần thơ vụng dại. Chúng tôi có những ngày bên nhau. L.H. là cả một trời thơ mộng giữa phố thị ngược xuôi. Tôi mất Sài G̣n, mất đi L.H. trong cái hỗn độn của tháng Tư 1975 nghiệt ngă vô thường.

Trần Công Thiện là thằng bạn học chung với nhau từ năm lớp Ba trên B́nh Long. Thiện về Sài G̣n học ở Vơ Trường Toản từ năm lớp Đệ Ngũ, do ba nó về nhận chức Trưởng Ty Bưu Điện Pasteur, Quận Nhất. Ngày trở lại B́nh Long không c̣n nữa, nên Thiện đưa mẹ tôi và anh em chúng tôi đến gặp Thầy Nguyễn Mạnh Tuân, Tổng Giám Thị và thầy Hiệu Trưởng Đỗ Hữu Nghĩa, hai thầy sau đó đă có quyết định đặc biệt cho anh em tôi được vào học tiếp ở đây. Tôi lại có dịp ngồi chung trường, chung lớp với nó. Mất một năm lớp 10 học dở dang v́ chiến cuộc và chiến nạn, vào lớp 11 ở đây những tháng đầu tôi phải khó khăn lắm về môn Pháp Văn, sinh ngữ hai, với thầy Trần Văn Dinh. Cứ mỗi tháng ông tặng đều cho tôi một cái 01/20, và chửi thật thậm tệ, thứ hạng trong lớp tôi cứ v́ con Zero của ông mà thụt lùi mỗi tháng. Có biết đâu rằng tôi không được học th́ làm sao mà tôi trả lời, và làm bài. Có lần có người con nuôi của ông đến cửa lớp học, ông chửi anh ta, vừa bằng tiếng Tây vừa bằng tiếng Việt làm bọn chúng tôi sợ muốn bỏ lớp mà chạy luôn. Độ nửa năm sau, lấy lại được căn bản về tiếng Pháp tôi đă đá văng được “tụi Sài G̣n”, như tôi và Thiện thường nói. Bấy giờ anh em chúng tôi chỉ c̣n nể sợ thằng Nguyễn Trung Cang và Phạm Hồng Dũng. Cái thằng mà năm lớp 12 nó được phần thưởng toàn trường của Tổng Thống VNCH.

Gặp lại nhau, rồi ngựa quen đường cũ, chúng tôi ham chơi nhiều hơn ham học. Sài G̣n những ngày tổng động viên, lớp học vắng dần. Cuối năm lớp 11, lúc này hai đứa cũng biết lo, nên rủ nhau đi học thêm, luyện thi Tú Tài, cho giống với người ta, với các môn Toán Lư Hóa, Triết ở trường Văn Học của Giáo sư Nguyên Sa Trần Bích Lan. Lúc thấy ông ở ngoài cổng chỗ bãi giữ xe Honda, với điệu dạng và cách ăn mặc xuề x̣a, bọn tôi lầm tưởng ông là người giữ xe.

Được học chung với cả con gái nữa. Giờ Triết của Thầy Trần Bích Lan lúc nào cũng đông vui. Ông kể chuyện tếu nhiều hơn chuyện học. Lư Hóa với thầy Trần Trọng Lập, lúc nào giảng bài trán ông cũng ướt đẫm cả mồ hôi, rồi quay xuống hỏi, chẳng ai hiểu ǵ cả, “cứ nghe chan chát bên tai“. Bọn tôi đi học mà cứ dơi mắt nh́n về hai cô bé ngồi gần bàn đầu, một ốm một mập, vừa kiêu ngạo vừa phá phách như “con gái Sài G̣n“. Bọn tôi đă ngầm theo hai cô về tận đến nhà, và c̣n biết rơ giờ giấc đi lại của từng người, kể cả những ngày nghỉ học.

Một hôm hai đứa chạy theo xe của hai nhỏ nầy đến tận Công Trường Con Rùa, Duy Tân. Biết chúng tôi theo, họ dừng xe lại và nghênh mặt, ngạo mạn hỏi hai đứa tôi muốn ǵ. Hai đứa sợ xanh cả mặt. Thế mới biết con gái Lê Văn Duyệt “hổng có hiền“. Rồi có lẽ thấy tội nghiệp cho hai thằng khờ nên “nhỏ ốm“ xưng tên T.T.A.H., c̣n “nhỏ mập“ là V.A. Rồi nhỏ ốm hỏi tôi trống không: “Tên ǵ?” Sợ quá… tôi cũng chẳng c̣n biết ḿnh tên là ǵ nữa, để mà trả lời.

Tối nào, hai đứa cũng đi một ṿng. Tôi từ Ngă Ba Ông Tạ, Thiện từ Pasteur, chúng tôi có điểm hẹn là Công Trường Dân Chủ. Từ đó qua nhà nàng ở chung cư Yên Đỗ, rồi đến Trần Quang Khải. Chúng tôi sống mơ mộng như trong t́nh khúc của Nhật Trường, mặc dù nhà nàng không có hương thơm dạ lư. Về đến nhà hôm nào cũng hơn mười giờ đêm, bố mẹ tôi cứ tưởng con ḿnh chăm học lắm, hết học trường công lại đi học trường tư, học cả ngày lẫn đêm.

Tôi có thói quen, cứ đói bụng th́ không học bài được, mà ăn no th́ lại không dám học v́ sợ đau bao tử và có hại sức khỏe. Mà năm ấy chúng tôi thi trắc nghiệm IBM. Nghe nói dễ lắm. Thiên hạ đồn rằng chẳng cần học bài, cứ nhắm mắt vô khoanh, không A th́ B hoặc C, bí quá th́ đổ hột xí ngầu rồi đánh bừa cũng đậu. Nghe nói cả bác lao công đi thi cũng đậu, cả nước đi thi mà, vui lắm! Đấy là lư do biện minh để hai đứa tôi yên tâm để th́ giờ mà lêu lổng vui chơi. Hôm trường đưa bài thi thử, mới thấy là ḿnh sống trong mơ đă gần một năm nay rồi.

Cũng có một cái may, tự dưng tôi và Thiện giận nhau đến hơn 3 tháng trước ngày thi Tú Tài. Thường th́ chúng tôi cũng hay giận nhau lắm, nhưng cùng lắm chỉ đến dăm hôm vài bữa rồi lại làm ḥa. Nhờ đó hai đứa mới có thời gian và cơ hội để học bài thi. Lúc này tôi cũng quên đi được cô bé Lê văn Duyệt…

Gặp lại nhau sau nhiều tháng trong khung trời Khoa Học. SPCN cho ghi danh thật trễ, ai cũng lo lắng. V́ nếu không có chỗ học năm đầu Đại Học th́ sẽ bị đi lính. Tôi cũng đi lên Thủ Đức thi tiếng Anh để giữ chỗ trong lớp Sinh Lư A.

Vào Khoa Học lúc này hai nhỏ ốm, mập đă chơi với chúng tôi. Đă chung đường quen lối. Hai nhỏ tặng cho chúng tôi hai tấm h́nh, để chúng tôi đỡ nhớ lúc không gặp nhau. Tôi và Thiện hai đứa lại chỉ thích mỗi một “nhỏ ốm” mà thôi. C̣n “nhỏ mập“ th́ chỉ mến như một người bạn hay một người chị. Chúng tôi phải đánh tù t́ để được giữ h́nh nhỏ ốm, cứ mỗi đứa một tuần.

Trong Giảng Đường Hai tôi đă từng nhiều lần bỏ lớp ra ngoài, lúc cô Trần Ngươn Phiêu hay thầy Công (Vật Lư) đi du học trở về lại Việt Nam giảng dạy, đang giảng, khi họ quay lên bảng để chép bài, tôi cùng Thiện, và hai nhỏ đi lang thang trên phố, hoặc vào quán thạch chè Hiển Khánh với nhau… Cô Phiêu là vợ của Bác Sĩ Trần Ngươn Phiêu, đă có một thời làm đến chức Tổng Trưởng Y tế của VNCH. Cô rất khó, khi vào Giảng Đường II, tất cả sinh viên chúng tôi phải đứng dậy chào cô như thời c̣n ở tiểu học, rồi mới được ngổi xuống học.

Rồi Sài G̣n lại với những ngày biểu t́nh với “Phong Trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng” của Linh Mục Trần Hữu Thanh trong xứ đạo Tân Sa Châu. Sài G̣n không ngủ với ḍng người đ̣i ông Thiệu phải từ chức. Tôi cũng ḥa nhập vào ḍng người đó để chống lại bất công xă hội. Tuổi thanh niên chúng tôi là thế đó.

Tin thất trận các tỉnh miền Trung dồn dập tràn về. Sài G̣n sống trong hốt hoảng, trong cái chết hỗn loạn bi thương. Vài ngày trước khi Sài G̣n mất, chúng tôi có dịp thấy ông Kỳ đến xứ đạo Tân Sa Châu. Ông ta đă tuyên bố trước báo chí sẽ ở lại tử thủ đến cùng, chứ không hèn nhát bỏ trốn. Qua Mỹ để làm ǵ, làm ǵ có cà pháo mắm tôm, vợ con sẽ phải… Lúc nghe ông Kỳ ba xạo, chúng tôi cũng hăng máu lắm, cũng dơ tay, đ̣i ở lại, thề cùng ông ta chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, dù không biết cầm cây súng. Ngay chiều hôm đó tin BBC cho biết ông đă bỏ trốn ra chiến hạm Mỹ đậu ngoài khơi. Ngày ông trở về lại VN chửi lại VNCH, những người phía bên kia họ đă tha tội ... cho ông và cũng xem ông chẳng ra ǵ.

Ḍng đời nghiệt ngă, tháng Tư 1975, ngày mất nước đă đưa gia đ́nh Thiện đến bước đường cùng. Thiện đă nói trong nước mắt, thôi bây giờ tao chẳng c̣n ǵ để mà dành “nhỏ ốm” của mày nữa!

Thôi th́ cứ để ḍng đời đưa đẩy, buông trôi gắng gượng với những ngày ở Khoa Học. Tôi đă chạy theo và lánh đi một cuộc t́nh với T.T.A.H., cô bé Lê Văn Duyệt. Cái hạnh phúc mong manh và ngắn ngủi đó đă giữ tôi lại với Khoa Học, với Đại Học Tổng Hợp, ngắt bỏ đi những chập chững trong trường Y, làm bố tôi đă hơn một lần thất vọng, tưởng không có người nối nghiệp.

Ngày A.H. rẽ lối chia ĺa, tôi đă say với hơn một ly bia, vùi đầu trong gối, nước mắt tuôn tràn. Những sợi tóc nàng trao tôi đă giữ trọn cho đến ngày xa quê ĺa xứ.

Ba mươi lăm năm sau, ngày gặp lại A.H. bên trời Âu, nàng chỉ mơ ước có một đêm candle light bên nhau, trách tôi sao không nói rơ ngày đó. Tôi đùa rằng candle light bây giờ Thanh chỉ dùng đến khi ăn hột vịt lộn thôi, v́ trong cái ấm cúng mờ ảo ấy ḿnh sẽ không trông thấy con vịt, sợ lắm H. à.

…. Thời gian phôi pha, h́nh ảnh cũ rồi cũng nhạt nḥa bằng những cố quên với Như Mai, với Minh, với Huyền… với những ngày lao động, với sách đèn. T́m được niềm vui, tôi có Huyền Linh, sau những ngày dài đeo đuổi. Ở đây, tôi t́m được nơi Huyền Linh một chút dịu dàng của Liên, một tí thơ mộng của L.H., một chút kiêu sa của T.T.A.H. và có bóng dáng của tà áo dài thơ mơ mộng của cô nữ sinh Gia Long, e ấp ôm bờ vai nhỏ ngoan hiền.

Trong nhóm thực tập Sinh Hóa tôi có một cô bạn nhỏ N.A., người B́nh Dương, thật dễ thương. N.A. hay nhờ tôi chỉ cho xem trong kính hiển vi sau khi phân tích. Pḥng thực tập sinh hóa được xem là tối tân nhất vào thời đó, được trang bị với những kính hiển vi binocular (hai thị kính, nh́n được bằng cả hai mắt). Có một lần tự nhiên tôi thấy má ḿnh đỏ bừng, khi má tôi và má N.A. chạm nhau. Lúc đó tôi chẳng hiểu ḿnh học ǵ nữa và N.A .cũng để như thế rất lâu, mà hai đứa chẳng nói ǵ. Từ đó tôi say mê học Sinh Hóa và thầm cám ơn các nhà khoa học đă chế ra chiếc kính hiển vi tài t́nh với binocular thật diệu kỳ. Bây giờ mỗi lần có dịp ngồi trước kính hiển vi, khám nghiệm, tôi lại mơ đến ngày nào…

Khi có Huyền Linh tôi không c̣n viết được những vần thơ lăng mạn như ngày nào, như cái thuở c̣n theo đuổi, hẹn ḥ trong con phố nhỏ, bên hông trường Đại Học Vạn Hạnh dẫn đến nhà nàng. Khi ra trường, tôi được phân công về Sở Thủy Sản, Huyền Linh về nhận công việc ở Công Ty Cây Xanh Thành Phố. Ngày tháng bên nhau là những tính toán cho một lần đào thoát.

Đêm tháng Tư 1980 thật dài và buồn như vô tận. Ngồi trên boong tàu Cap Anamur nh́n về một chân trời xa xăm trên đại dương, mênh mông biển nước, tôi thấy nơi đó có Việt Nam, có Sài G̣n của tôi. Nước mắt nhạt nḥa, khi nghe BBC loan đi một mẩu tin ngắn, như những mẩu tin vô t́nh hằng đêm: 52 thuyền nhân đă được tàu Cap Anamur của Hiệp Hội Bác Sĩ Cứu Cấp của Tây Đức cứu vớt trên biển Đông. Họ ra đi từ bến Bạch Đằng trên một chiếc ghe nhỏ, dài hơn 7 mét. Tiếp theo bản tin ấy, Ca Sĩ Khánh Ly đă thổn thức trong khúc hát: “… chiều nay có một người di tản buồn, nh́n về nơi một quê hương thật xa, nơi rất xa…” như tâm trạng của tôi, lúc bấy giờ!

Mừng cho một lần vượt thoát. Nỗi buồn để lại sau lưng là xa mẹ cách cha, là anh em, là bạn bè, và là cả một trời quê hương. Vẫn c̣n khổ nạn với những tháng Tư buồn…

Thôi đă mất hết rồi! C̣n đâu những hẹn ḥ thơ dại của một thời mới lớn. C̣n đâu những con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm ngập lá me vàng dẫn đến ngôi trường Vơ Trường Toản cổ kính, giấu ḿnh trong những tàn cây cao vút, c̣n đâu con đường Cộng Ḥa ngập hoa vàng cườm thảo!

May mà nơi đây tôi c̣n có Huyền Linh, một người bạn, một người vợ hiền, có một đàn con và mái ấm gia đ́nh, với những bận rộn sinh nhai với pḥng mạch để quên đi những tháng ngày thầm lặng đến buồn tênh nơi quê người…

Viết cho những người bạn của tôi
(Minden, đêm 24 tháng Giêng năm 2015)
Trương Ngọc Thanh (67-74)
(Bài viết đă được đăng trên Đặc San Xuân Ất Mùi 2015 - CSV Đại Học Khoa Học Saigon)


Trương Ngọc Thanh (67-74)
Ngựa Già Vẫn Háu Đá
Admin
2017-03-12
Giai Phẩm Xuân Vơ Trường Toản 1965 & 1969-75
Đọc lại những Giai Phẩm Xuân Vơ Trường Toản 1965 & 1969-75 do các anh Nguyễn Tuấn Khanh (64-71) và Lê Minh Chánh (68-75) thu thập:


Đọc bài khảo cứu dưới đây của anh Nguyễn Tuấn Khanh (64-71) về chữ Quốc Ngữ trong giai đoạn phôi thai:
Đọc Đăng Cổ Tùng Báo
H́nh Kỷ Yếu VTT 1971
Tập Kỷ Yếu Trung học Vơ Trường Toản, kỷ niệm 15 năm hoạt động 1956-1971. Gồm 42 trang, ấn hành 3000 bản, in xong ngày 20-5-1971 tại nhà in riêng Kim Studio.
>> Xem Kỷ Yếu
Thông tin
Các bạn đă từng viết thơ văn, làm nhạc hay vẽ tranh v.v... xin đóng góp trên trang votruongtoan.org.
Cám ơn các bạn.
Nguyệt San VTT (71-75)
Đọc lại Nguyệt San Vơ Trường Toản phát hành đầu tiên từ tháng 11, năm 1971 cho đến tháng 4 năm 1975 do Nguyễn Ngọc Long (68-75) sưu tầm.> Đọc Nguyệt San

Website: http://www.votruongtoan.org
Email: admin@votruongtoan.org
144191