Hiện đang có 1 người (0 thành viên). Số lần viếng : 422775 
 Trang Chính
 Tin Tức
 Thành Viên
 H́nh Ảnh
 Phim
 Thư Tín
 Thơ
 Bài Viết
 Đào Từ (66-73)
 ACVTT
 Anh Áo Trắng
 Áo Trắng Trưng Vương
 Bích Huyền
 Bùi Tuấn Dương (63-70)
 Cố GS Nguyễn Đức Hiển
 Chris Scanlan
 Chu Phan
 GS Bùi Viện
 GS Khưu Thị Ngọc Sang
 GS Lê Đức Cửu
 GS Nguyễn Thanh Thu
 GS Nguyễn Văn Phú - Nguyên Hiệu Trưởng Tư Thục Hưng 
 GS Phạm Cao Dương
 GS Trần Thị Thanh Tâm
 Hà Chí Dzũng
 Hà Quân
 H́nh Ảnh Vui
 Hoàng Bách Việt
 Hoàng D. Mạnh (61-68)
 Hoàng văn Trung
 Huỳnh Minh Tú
 Khôi An
 Lauren Hilgers/ Trần Ngọc Cư
 Lê Khánh Điền
 Lê Văn Thài (58-65)
 Mai Kim Quang
 Nghiêm Xuân Cường
 Nghiêm Xuân Trang
 Nguyễn Đông Thức
 Nguyễn - Đông A
 Nguyễn Kỳ Phong
 Nguyễn Ngọc Long
 Nguyễn Như Sơn (66-73)
 Nguyễn Sao Miên
 Nguyễn Thiên Ân (57-64)
 Nguyễn Trung Anh
 Nguyễn Tuấn Khanh
 Nguyễn Văn Liên
 Nguyễn Xuân Dục
 Như Không
 NTTV
 Phạm Anh Dũng
 Phạm Văn Nam
 Phạm Văn Phú
 Quán Văn VTT - Mục Lục Tổng Quát
 Sưu Tầm
 Trần Đ́nh Anh
 Trần Đông Bắc
 Trần Văn Hiển
 Trần Thu Dung
 Trang Thanh Trúc
 Việt Hải - Los Angeles
 Viên Linh
 Nhạc
 Giới Thiệu VTT
 Diễn đàn
 Hỏi Đáp
 Thể Thao - Giải Trí
 Báo Chí
 Trang Liên Kết
 Quán Hẹn (Cần Log In)
 Nhắn Tin-Message
 Log out
 Khoa Học - Kỹ Thuật
 Đại Hội - Reunions
Disclaimer
1) Ư kiến đóng góp của quí bạn không phải là quan điểm của www.votruongtoan.org và cũng không nhất thiết phải phù hợp với quan điểm của www.votruongtoan.org. Chúng tôi tôn trọng ư kiến khác biệt của quí bạn, nhưng không chịu trách nhiệm dưới bất cứ h́nh thức nào và nội dung của những ư kiến này. Votruongtoan.org không bảo đảm mọi ư kiến đóng góp đều được đăng và cũng giành quyền biên tập lại khi cần thiết. Cám ơn
 Trần Văn Hiển - Giấc Mơ Đại Việt
Số lần xem: 3214

Giấc mơ Đại Việt

June 15, 2007

VTT/GS/TS Trần Văn Hiển, CPA, ĐH Houston-Clear Lake, Texas, Hoa Kỳ

Lời giới thiệu: VTT Trần Văn Hiển tốt nghiệp trường Vơ Trường Toản năm 1972, sau đó được học bổng du học ngoại quốc . Giáo Sư Tiến Sĩ (GS/TS) Trần Văn Hiển hiện đang cộng tác với Viện Đại Học Houston tại Clear Lake (viết tắt UHCL) từ mùa Thu năm 1987. Từ năm 1999, Giáo Sư Hiển phụ trách chương tŕnh hợp tác giữa UHCL và các Đại Học tại Sàigon. Chương tŕnh nầy đă giúp hơn 400 du học sinh VN sang học tại UHCL. GS/TS Trần Văn Hiển về Việt Nam ba lần mỗi năm, mỗi lần ở lại khoảng 1 tháng. Nhờ vậy GS/TS Hiển đă có cơ hội tiếp xúc với mọi thành phần xả hội tại Việt Nam và am hiểu sâu rộng các thực trạng của Việt Nam ngày nay. Bài viết nầy đă được đăng trên website của BBC cách đây 1 tháng. Chủ trương của Hội Ái Hữu Vơ Trường Toản là không liên hệ tới sinh hoạt chính trị, nếu v́ bàn luận đến cải cách giáo dục mà phải bất đắc dỉ đề cập đến một ít bối cảnh chính trị th́ đó là ngoài ư muốn của Hội Ái Hữu CHS VTT - Kính bút - T B Chánh

Người Việt ngày nay là con cháu của dân tộc Việt sống ở Bắc Bộ Việt Nam (VN) và Nam Trung Quốc (TQ) trên hai ngh́n năm trước. Người Việt ở Nam TQ bị đồng hóa và thành người Hoa.
Nhờ ǵn giữ được văn hóa và có tinh thần dân tộc cao, người Việt Bắc Bộ dành được độc lập sau 1000 năm bị Trung Quốc đô hộ. Ǵn giữ được văn hóa trong 1000 năm bị đô hộ là thành công lớn nhất của giai đoạn này.
Giai đoạn từ khi dành độc lập từ TQ đến khi bị Pháp thống trị là thời huy hoàng nhất trong lịch sử và có thể gọi là thời “Đại Việt”. Ǵn giữ được độc lập, luôn tự bảo vệ được chính ḿnh, và tạo được một uy thế khiến những nước lân bang lớn nhỏ phải nể sợ là những đặc thù của nước Việt. Những người Việt tiền phong chinh phục Chiêm Thành, khai đất hoang ở Nam Bộ, mở rộng bờ cơi từ Lạng Sơn đến Cà Mau, và truyền bá văn hóa Việt trên những vùng đất mới. Có thể ví VN từ là một con mèo bé bị nhốt trong chuồng 1000 năm, thành một con hổ to tung hoành Đông Nam Á. Người Việt ngủ say trong huy hoàng trong một thế giới bé lạc hậu, không biết đến những tiến bộ vượt bực và nguy cơ mới từ thế giới bên ngoài nên khi bị Pháp xâm lược và VN lại một lần nữa thành một con mèo bé bị nhốt thêm 100 năm.
Giai đoạn từ thời Pháp thuộc đến lúc Liên Xô sụp đổ có thể gọi là thời “Phương Tây áp đảo” (Western domination). Ba nước Phương Tây ảnh hưởng nhiều nhất lên VN là Pháp, Hoa Kỳ và Liên Xô vốn là những nước mạnh gấp nhiều lần TQ xưa kia về kinh tế, quân sự, khoa học, chính trị và tôn giáo.
Vào những năm cuối của chế độ Liên Xô và sau một thế kỷ chinh chiến, VN có đầy chiến thắng quân sự, nhưng trả giá rất đắt với hàng triệu người bỏ ḿnh trong nhiều cuộc chiến, và kiệt quệ về kinh tế. Sự áp dụng chủ nghĩa Mác-Lê trên toàn lănh thổ làm đời sống vật chất và tinh thần quá khó khăn buộc cả triệu người bỏ nước ra đi. Những yếu tố như tài năng, cố gắng, kiên tŕ, khôn khéo và hy sinh trong chiến tranh không được chính quyền tận dụng vào thời b́nh. Kết quả là VN bị tụt hậu xa so với thế giới và so với cả những nước trong khu vực Đông Á mà người Việt ở miền Nam VN thường xem là không bằng tầm cỡ ḿnh một vài thập niên trước.
big>Sự sụp đổ của Liên Xô cho người Việt một cơ hội mới để tự chủ lấy ḿnh và phải đối đầu với một thế giới rộng lớn với nguy cơ ngh́n năm TQ vẫn c̣n đó và một Phương Tây hùng mạnh nhưng hoàn toàn khác về ư thức hệ. Trong thời cơ mới, người Việt vẫn khao khát vươn lên để tạo dựng một nước Đại Việt mới và kinh tế là ch́a khóa chính để giải quyết nhiều vấn đề bao gồm cải thiện môi trường, cải thiện hệ thống giao thông, thiết lập công bằng xă hội và an ninh quốc pḥng. Bài này tŕnh bày một chiến lược để có mức tăng trưởng kinh tế cao và bền vững từ đó nâng cao vị trí của VN trong vùng Đông Á, biến VN thành một con hổ to mới của Á châu bên cạnh Nam Hàn, Đài Loan, Singapore và Hồng Kông.

I.       Thế nào là một Đại Việt mới

Dữ kiện trong bài Việt Nam Thành Công Ra sao? cho thấy thứ hạng về kinh tế của VN là 80/100, môi trường91/100, nhân quyền74/100. Nội an, công bằng xă hội và ngoại an c̣n nhiều bất ổn cần phải giải quyết. Những chi tiết này cho thấy chắc chắn Việt Nam ngày nay không ở tầm cỡ Đại Việt ngày xưa.
Người Việt khát khao khôi phục huy hoàng của thời Đại Việt trong một thế giới rộng hơn nhưng bành trướng lănh thổ không c̣n hợp thời. Đại Việt mới phải có một nền kinh tế mạnh ít nhất bằng Nam Hàn (nước ở hạng tôp 25/100 về kinh tế trên thế giới) với môi trường, nội an, ngoại an, công bằng xă hội cũng ở tầm cỡ cao để bảo đảm VN đủ mạnh, có thể tự bảo vệ ḿnh trong lâu dài.
Cũng theo bài trước Việt Nam Thành Công Ra sao? VN cần 150 năm để bắt kịp Nam Hàn (nếu hai nước cùng giữ mức độ tăng trưởng GDP và dân số hiện thời), một thời gian quá dài mà người Việt không thể chấp nhận. Nếu muốn bắt kịp trong 50 năm, tăng trưởng GDP hàng năm phải đạt ít nhất 12%, và chỉ có Singapore làm được điều này nhờ có mức hữu hiệu chính quyền thật cao. VN cần phải nâng cấp nền tảng và minh bạch chính quyền lên tầm cỡ Singapore từ đó chính quyền tạo được một môi trường lành mạnh cho sự phát triển kinh tế cao, bền vững để tiến đến một Đại Việt mới.
Trong những năm qua, VN đă và đang thay đổi rất nhiểu để được vào WTO và có một vài thành công đáng kể như có phát triển GDP cao thứ nh́ ở Á châu. Nếu cố gắng hơn nữa và có một chính sách kinh tế rơ rệt lâu dài, giấc mơ Đại Việt có thể nằm trong tầm tay người Việt trong 50 năm.

II.       Những dữ kiện quan trọng

Trong Bảng 1, tác giả thu thập dữ kiện và so sánh thành công hiện thời của chính quyền VN với một số nước trong sự quản lư nền kinh tế. Những dữ kiện này được chuyển qua chỉ số 100 để dễ so sánh. Hạng 1 là cao nhất và hạng 100 là kém nhất trên thế giới.
Vị Trí Việt Nam Trên Thế Giới

Hạng 1 : Tốt nhất - Hạng 100: Kém nhất
NướcGDP Đầu ngườiNền Tảng
Chính quyền
Chính quyền
Minh bạch
Hạ tầng
Cơ Sở
Tự Do
Kinh Tế
Khả Năng
Con Người Cao
Hoa Kỳ322121035
Mă Lai391427183120
Nam Hàn243826172315
Nga439174497651
Nhật518106117
Phillipines667074706252
Singapore1433519
Thái lan523239303233
Trung Quô'c626443487653
Việt Nam8059686688 67
Tương Quan với
Minh Bạch
95%91%92%
Tương Quan vói
GDP Đầu Người
91%89%94%


Dữ kiện từ Bảng 1 đưa đến một số nhận định sau:
•     Hai nước giàu nhất, Hoa Kỳ và Nhật, có rất nhiều chỉ số cao từ nền tảng chính quyền đến khả năng con người.
•     VN và Philippines là hai nước nghèo nhất trong mười nước và có rất nhiều chỉ số ở tŕnh độ rất thấp.
•     Singapore từ một nước nghèo như VN và đă bắt kịp thế giới thật nhanh nhờ có nhiều chỉ số thật cao. Nhờ vào chính quyền hữu hiệu và một môi trường kinh tế lành mạnh, GDP đầu người tăng vọt từ $619 đô la vào 1967 (GDP của VN trong 2006) lên $17,552 (GDP của Nam Hàn trong 2006 hay của VN trong giấc mơ Đại Việt) sau 26 năm hay 1993.

III.       Những thuật ngữ cần biết

Để hiểu rơ chiến lược nâng cao kinh tế lên tầm cỡ Nam Hàn trong 50 năm, người đọc cần làm quen với những thuật ngữ sau:
Nền tảng chính quyền là nền móng của nền kinh tế. Khi nền tảng vũng chắc, nền kinh tế sẽ phát triển ở mức độ cao. Những yếu tố chính của nền tảng là:
•     Hệ thống nhân sự nhà nước hữu hiệu là một hệ thống tuyển, dụng, tưởng thưởng nhân sự dựa vào tài năng, và đồng lương phải tương ứng với trách nhiệm và khả năng hoàn thành nhiệm vụ.
•     Chính quyền pháp trị là một chính quyền có luật pháp rơ ràng, hành luật nghiêm túc, đối xử với mọi người dân như nhau và thường gồm có 3 nhánh độc lập: lập pháp, hành pháp và tư pháp.
•     Chính quyền gần với người dân là một chính quyền có cấu trúc hàng dọc như chính quyền Hoa Kỳ với 3 bậc: trung ương (liên bang) lo việc đại sự, tỉnh (tiểu bang) lo việc vùng, và quận/huyện/xă lo việc địa phương. Ở mỗi bậc, chính quyền hiểu rơ người dân cần ǵ, được người dân giám sát và có quyền thu thuế để chi tiêu ở cấp bậc.
•     Hệ thống thuế hữu hiệu là một hệ thống thuế minh bạch, dễ hiểu, dễ quản lư, được người dân tin và thu được thật nhiều thuế từ người giàu hay nguời có thu nhập cao.
Nền tảng chính quyền của VN có nhiều vấn đề như hệ thống nhân sự nhà nước dựa quá nhiều vào tuổi đảng, luật pháp chồng chéo và không rơ rệt, ṭa án và quốc hội không có độc lập, đại đa số quyền tập trung vào Bộ Chính Trị của ĐCS, nạn “trên bảo dưới không nghe”, cơ chế “xin, cho” (dân không được giám sát chính quyền), thất thu thuế, v.v…
Tự do kinh tế là quyền tham gia vào mọi hoạt động kinh tế mà luật không cấm. Ở những nước có tự do kinh tế kém, người dân bị cấm làm tất cả mọi hoạt động kinh tế ngoại trừ được nhà nước cho phép, đất nước phát triển thấp hơn tiềm năng và thường bị tụt hậu. Thứ hạng tự do kinh tế là 88 sau khi vào WTO và là 90 trước khi vào WTO. Trong 20 năm đổi mới (1986-2006), VN lên được 10 hạng. Với vận tốc thay đổi trước WTO, người dân phải đợi thêm 174 năm để được tự do kinh tế bằng Singapore. Khi tự do kinh tế tăng, kinh tế cũng phát triển, và tỷ lệ tương quan giữa hai chỉ số này là 89%. Do đó tự do kinh tế là một động cơ cho phát triển kinh tế.
Hạ tầng cơ sở gồm có hệ thống điện nước, giao thông, viễn thông, y tế, giáo dục, xử lư những chất phế thải độc hại, xây đô thị mới, kiến trúc lại đô thị cũ, v.v. Khi hạ tầng cơ sở tăng, kinh tế cũng phát triển và tỷ lệ tương quan giữa hạ tầng cơ sở và kinh tế là 91%. Như vậy, hạ tầng cơ sở cũng là một động cơ cho phát triển kinh tế.
Khả năng cao của con người gồm có tốt nghiệp đại học có chất lượng (higher education), khả năng kỹ thuật cao (technological knowledge), đầu óc kinh doanh (managerial and business knowledge), sáng tạo (innovation), biết nhận diện và nắm bắt cơ hội mới, gần, xa, biết cách thành lập và lănh đạo tổ chức, biết tính toán và chấp nhận rủi ro trong kinh doanh, v.v. Nói cách khác, khi khả năng con người tăng, kinh tế cũng phát triển và tỷ lệ tương quan giữa hai chỉ số này là 94%. Do đó khả năng con người cao là một động cơ lớn nhất cho phát triển kinh tế.
Chính quyền minh bạch là một chính quyền hành luật đúng đắn và người dân biết rơ chính quyền làm ǵ. Theo các tỷ lệ tương quan trong Bảng 1, sự minh bạch của chính quyền có tác động lớn lên hạ tầng cơ sở, tự do kinh tế và khả năng con người cao. Khi mức minh bạch cao, chính quyền xây được hạ tầng cơ sở tốt và tỷ lệ tương quan giữa hai chỉ số này là 95%. Tương tự, mối tương quan giữa minh bạch và tự do kinh tế là 91%, và giữa minh bạch và khả năng con người cao là 92%. Sau đây là một vài ví dụ cho thấy những tác hại của chính quyền minh bạch kém của VN:
•     Chính quyền TQ minh bạch hơn chính quyền VN nên họ xây được hạ tầng cơ sở vững mạnh hơn và nền kinh tế của họ cũng tiến mạnh hơn VN. Điều này cho thấy minh bạch kém sẽ đưa đến hạ tầng cơ sở tồi tệ.
•     VN thu hút rất ít đầu tư từ VK v́ kém minh bạch. Ví dụ luật cho phép VK mua nhà ở VN nhưng trong thực tế chỉ có khoảng 100 người mua được nhà trong 5 năm qua v́ nhiều khó khăn hành chính. Kết quả là không mấy VK đầu tư ở VN. Như vậy minh bạch kém làm giảm tự do kinh tế.
•     VN cần rất nhiều trường đào tạo chuyên viên giỏi tay nghề với tŕnh độ tiếng Anh cao, nhưng luật lệ chẳng nói rơ là ai sẽ được phép mở trường, xin ở đâu, mất bao lâu và mất bao nhiêu tiền. Kết quả là người có khả năng mở trường th́ không được mở. Như vậy minh bạch kém làm giảm cơ hội tạo con người có khả năng cao.
Bạn của Phương Tây (Bắc Mỹ và Tây Âu) – Tất cả những nước có nền kinh tế cao ở Châu Á là bạn thân thiết hay đồng minh của Phương Tây như Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore. Hai/ba mươi năm trước, khi VN và TQ có nhiều xung đột với Hoa Kỳ, hai nước rất nghèo. Sau này, nhờ ḥa hoăn với Hoa Kỳ, kinh tế hai nước khá hơn nhiều. VN đang chỉ làm quen với Phương Tây chứ chưa được làm bạn/đồng minh.

V.       Chiến lược

Để trở thành một nước giàu trong tốp 25 hạng của thế giới như Nam Hàn trong 50 năm, VN phải học theo Singapore để có tăng trưởng kinh tế trên 12% mỗi năm (hay duy tŕ mức phát triển 6-8% hàng năm hơn thế giới) và cần đầu tư ngh́n tỷ đô la từ mọi nguồn. VN cần có một chíến lược kinh tế rơ rệt hay cần làm những “đại việc” như sau:
Minh bạch hóa chính quyền là chuyện đầu tiên phải làm và nên bắt đầu ngay với việc thực hiện đồng nhất ở mọi cấp chính quyền những cam kết với WTO. Đây là một công việc đ̣i hỏi rất ít đầu tư tài chính nhưng rất nhiều kỷ luật mà mọi cấp chính quyền cần phải tuân theo. Khi mức độ minh bạch tăng, hạ tầng cơ sở sẽ được cải thiện (ví dụ sau khi diệt hết được những con sâu PMU18), và tự do kinh tế cũng sẽ tăng (ví dụ khi viên chức chính quyền không c̣n quấy nhiễu nhà đầu tư hay doanh nghiệp). Những cải cách này bao gồm hệ thống tuyển, dụng và tưởng thưởng dựa vào tài năng, trừng phạt tội phạm tham nhũng nghiêm minh, tư nhân hóa khu vực kinh tế quốc doanh và người dân có quyền kiểm soát chính quyền, v.v… (xin đọc “Việt Nam Nên Chống Tham Nhũng Như Thế Nào?” của tác giả).
Thu hút đầu tư để tận dụng nguồn nhân lực thừa là chuyện cần làm ngay. Chính sách đánh tư sản của thời 75-86 tiêu diệt một đại đa số những nhà đầu tư trong nước. Thêm vào đó, lănh đạo với tư duy xă hội chủ nghĩa nặng nề và hệ thống giáo dục bao cấp trước thời gia nhập WTO, đưa đến một xă hội không đào tạo đủ những nhà lănh đạo/đầu tư để tạo công ăn việc làm cho người dân. Kết quả là VN có quá nhiều người không có việc làm. Sự thành công trong sự thu hút đầu tư tùy thuộc rất lớn vào sự minh bạch của chính quyền trong việc thi hành những cam kết với WTO và việc tạo điều kiện thuận lợi cho mọi nhà đầu tư thành công trong kinh doanh ở VN.
Cải cách cần rất ít vốn đầu tư – Ba lănh vực cần rất ít tài chánh nhưng rất nhiều thay đổi tư duy là: khả năng con người cao, làm bạn với Phương Tây và nhờ Việt Kiều (VK) làm cầu nối với Phương Tây.
Nâng cấp khả năng con người đ̣i hỏi nhiều cải cách trong môi trường giáo dục và phương pháp giảng dạy như áp dụng mô h́nh đại học tổng hợp, tự trị đại học, nhiều trường cao đẳng dạy nghề, địa phương hóa quản lư giáo dục, kiểm định chất lượng, chương tŕnh học linh động phù hợp với sự phát triển tâm sinh lư của từng cá nhân, v.v. (xin đọc “Cải Cách Môi Trường Giáo Dục” và “Nên Học Nền Giáo Dục Mỹ Những Điểm Nào” của tác giả).
VN là một nước xă hội chủ nghĩa có nhân quyền rất thấp và thường gặp nhiều khó khăn về kinh tế khi giao tiếp với Phương Tây. Ví dụ, VN vẫn bị coi là nền kinh tế phi thị trường và công ty quốc doanh gặp nhiều khó khăn khi buôn bán với Hoa Kỳ và Liên Hiệp Châu Âu. Để làm bạn với Phương Tây, VN cần nâng cao chính quyền pháp trị, minh bạch, nhân quyền và tự do chính trị.
VN sẽ được rất nhiều lợi ích khi hàng chục vạn trí thức VK giúp móc nối VN với những tập đoàn kinh tế lớn họ đang phục vụ ở Phương Tây. Để thu hút những đối tượng VK trên, chính quyền cần nâng cao minh bạch, tự do kinh tế và niềm tin của VK vào khả năng của chính quyền bảo vệ quyền lợi của VK ở VN. Thêm vào đó, phải cho đại đa số VK cảm nhận được đất nước VN là của mọi người Việt, chứ không phải là đất nước riêng của một đảng phái chính trị nào.

Chuyển Hướng Nền Kinh Tế - VN cần chuyển hướng nền kinh tế như sau:

•     VN tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài càng nhiều càng tốt, nhưng cần chuyển dần từ kỹ nghệ gia công thấp đến công nghệ cao và kỹ nghệ trí thức để tăng trưởng kinh tế ở cấp bậc cao.
•     Phát triển kỹ nghệ trí thức cho miền Bắc và Trung, hai miền đông dân với đất đai cằn cỗi và con người hiếu học. Kỹ nghệ trí thức (nắm bởi Phương Tây), cần người hiếu học và không cần đất, là một giải pháp kinh tế hợp lư nhất cho hai miền này. VN cần làm bạn của Phương Tây để thu hút những đầu tư này.
•     Tạo được một môi trường giáo dục, đầu tư và hành chính lành mạnh để người Việt có thể tạo và làm chủ nhiều tổ chức kinh tế lớn ở tầm cỡ thế giới như Sam Sung và Hyundai trong 50 năm tới, và những tổ chức này sẽ nâng cao vị trí của VN lên tầm cỡ Đại Việt.

Nâng cao/nới rộng nền tảng chính quyền là một việc làm lâu dài. Những cải cách này gồm có hệ thống nhân sự nhà nước dựa chính vào tài năng, chính quyền với quyền hạn rơ rệt giữa ba nhánh, chính quyền gần dân, 100% niềm tin vào kinh tế thị trường, và hệ thống thuế hữu hiệu. Khi đạt được một nền tảng chính quyền cao như Singapore, VN sẽ có đủ tài năng xây dựng hạ tầng cơ sở vững mạnh và đẩy mạnh tự do kinh tế lên tầm cỡ Singapore. Những thay đổi này sẽ tạo được một môi trường lành mạnh cho sự phát triển những tập đoàn kinh tế ở tầm cỡ quốc tế và từ đó tiến đến Đại Việt.

VI.      Lời Kết

Người Việt ở mọi nơi khát khao phục hồi huy hoàng của thời Đại Việt. V́ vị trí quá thấp của VN trên thế giới trong những thập niên qua, Đại Việt chỉ là một giấc mơ âm ỉ trong ḷng người Việt. Giấc mơ này nằm trong tầm tay người Việt và chỉ có thể thành sự thật khi chính quyền có đủ can đảm thay đổi thật nhiều hay làm được nhiều “đại việc” để người dân có thể phát huy toàn diện và cống hiến hết ḿnh cho đất nước. Thế chính quyền Việt Nam có đủ can đảm thực thi nhiều “đại việc” để biến giấc mơ Đại Việt thành sự thật trong năm thập niên tới chưa?


Tài Liệu Tham Khảo (có thể truy cập từ Internet)
1.   Index of Economic Freedom, Herritage Foundation and The Wall Street Journal
2.     2007 Index of Economic Freedom, Herritage Foundation and The Wall Street Journal
3.     Global Competitive Index: Identifying Key Elements of Sustainable Growth, 2006-2007 Ranking, World Economic Forum
4.     GNI Per Capita 2005, Atlas Method, World Development Indicators Database, World Bank, 1-07 2006.
5.     Statistics Singapore, http://www.singstat.gov.sg/keystats/hist/gdp.html
6.     Trần Văn Hiển, “Cải Cách Môi Trường Giáo Dục”, BBC Vietnamese, 17-9, 2006
7.     Trần Văn Hiển, “Nên Học Nền Giáo Dục Mỹ Những Điểm Nào”, BBC Vietnamese, 30-11, 2006
8.     Trần Văn Hiển, “Việt Nam Nên Chống Tham Nhũng Như Thế Nào?” BBC Vietnamese, 2006
9.     Trần Văn Hiển, “Việt Nam Thành Công Ra Sao?” BBC Vietnamese, 24-4, 2007




Trần Văn Hiển
Việt Nam Thành Công Ra Sao?
Trần Văn Hiển
2007-06-29
Giấc Mơ Đại Việt
Trần Văn Hiển
2007-06-29
Môi Trường Giáo Dục Việt Nam-2
Trần Văn Hiển
2007-05-03
Môi Trường Giáo Dục Việt Nam
Trần Văn Hiển
2006-09-16
Giai Phẩm Xuân Vơ Trường Toản 1965 & 1969-75
Đọc lại những Giai Phẩm Xuân Vơ Trường Toản 1965 & 1969-75 do các anh Nguyễn Tuấn Khanh (64-71) và Lê Minh Chánh (68-75) thu thập:


Đọc bài khảo cứu dưới đây của anh Nguyễn Tuấn Khanh (64-71) về chữ Quốc Ngữ trong giai đoạn phôi thai:
Đọc Đăng Cổ Tùng Báo
H́nh Kỷ Yếu VTT 1971
Tập Kỷ Yếu Trung học Vơ Trường Toản, kỷ niệm 15 năm hoạt động 1956-1971. Gồm 42 trang, ấn hành 3000 bản, in xong ngày 20-5-1971 tại nhà in riêng Kim Studio.
>> Xem Kỷ Yếu
Thông tin
Các bạn đă từng viết thơ văn, làm nhạc hay vẽ tranh v.v... xin đóng góp trên trang votruongtoan.org.
Cám ơn các bạn.
Nguyệt San VTT (71-75)
Đọc lại Nguyệt San Vơ Trường Toản phát hành đầu tiên từ tháng 11, năm 1971 cho đến tháng 4 năm 1975 do Nguyễn Ngọc Long (68-75) sưu tầm.> Đọc Nguyệt San

Website: http://www.votruongtoan.org
Email: admin@votruongtoan.org
422775